NHÀ BÁO “THAM NHŨNG” NHƯ THẾ NÀO ?

12:29 AM |
NHÀ BÁO “THAM NHŨNG” NHƯ THẾ NÀO ?
Ngô Minh
Người ta gọi “báo chí là quyền lực thứ tư” trong xã hội sau lập pháp,tư pháp và hành pháp. Vì là quyền lực nên bao giờ cũng có sự lạm quyền. Lâu nay ta chỉ nói đến lãnh đạo có chức có quyền tham những. Vậy nhà báo có tham nhũng không? Có! Một số nhà báo và cơ quan báo chí đang tham nhũng rất tinh vi. Báo mà đăng bài để “ chạy án” cho Năm Cam cách đây mấy năm là báo hại đích thị rồi. Mới đây, Hà Phan (Phan Hà Bình) phó tổng thư ký tòa soạn của một tờ báo lớn bị bắt khi nhận hối lộ 220 triệu đồng (11.000 đô la) để không viết bài tố các thương gia. Đó là những chuyện tham nhũng, hối lộ cụ thể. Từ nhiều năm qua báo chí ta cũng có không “mẹo làm tiền” các doanh nghiệp không kém những vụ việc trên. Không ít tờ báo đang trở thành báo hại. Hại đến mức hễ nghe nhà báo tới là giám đốc “sợ” tái mặt, phải tìm cách “chạy trốn”, nhưng lại ít người nói tới. 

Tòa soạn báo thành… cơ quan đánh quả!

Từ ngày đổi mới đến nay, báo chí đã thực sự trở thành “món ăn” không thể thiếu đối với người dân hàng ngày. Báo chí đang tham gia tích cực và có hiệu quả vào sự nghiệp đổi mới, mở của, chống tiêu cực, tham nhũng. Nhiều tờ báo do hấp dẫn người đọc, ti-ra phát hành lớn, nên người ta sống chủ yếu bằng lợi nhuận báo. Những tờ báo đó, hàng các doanh nghiệp hàng ngày tìm đến xin đăng quảng cáo rất đông. Nhưng cũng có rất nhiều tờ báo phát chỉ phát hành được vài ngàn bản một kỳ. Tiền bán báo không đủ bù tiền in, tiền nhuận bút, nên cả tòa soạn sống chủ yếu bằng “ nghề chạy quảng cáo” ở các DNNN, thậm chí “chạy” quảng cáo tận các trường tiểu học, trạm xá, bệnh viên... thậm chí Trại phục hồi nhân phẩm cũng phải “mần” quảng cáo! Nhiều tờ báo ở Hà Nội, vào Đà Nẵng lập ra một “đại diện Miền Trung“ hẳn hoi, nhưng tòa soạn không trả lương, mà anh em phải đi chạy quảng cáo để nuôi nhau! Cứ đến kỳ Tết Nguyên Đán, ngày 30-4, ngày nhà báo Việt Nam 21-6, ngày Quốc Khánh 2-9 v.v... cả tòa soạn không viết báo mà đổ xô đi… làm quảng cáo! Làm quảng cáo mà có thư của thứ trưởng, vụt trưởng mang theo. Có báo một cái Tết “đọc lệnh” được vài ba tỷ đồng tiền qủang cáo! Giám đốc doanh nghiệp nhà nước phải tiếp mỗi ngày hàng mấy chục “nhà báo quảng cáo” như vậy nên phát sợ. Nhiều nhà báo nhơè đi “đọc lệnh” quảng cáo mà có tiền xây nhà lầu, mua xe hơi xịn. Chứ nếu sống bằng nhuận bút thì không bao giờ có những thứ như vậy. Một nhà báo viết nhiều, in nhiều như bác Nguyễn Xuyến ở cạnh nhà tôi, mỗi tháng măng-đa nhuận bút về 7, 8 triệu đồng, cũng không đủ tiền mua xe hơi xin như vậy Các nhà báo hãy sờ tay lên gáy mình mà ngẫm nghĩ để sống cho ra con người.

Dù DN không có nhu cầu quảng cáo, nhưng phải bấm bụng mà làm, vì không làm “ lỡ có sai sót gì” trong kinh doanh, “nhà báo nói thêm” một thành mười thi nguy to! Một cái quảng cáo nửa trang ( 27x 40cm) 20 triệu bạc, in bia bốn thì 50 triệu. Một cái Tết “ chiều” cho hết hàng mấy chục tờ báo, coi như mất toi hai ba bốn trăm triệu,vì thế mà giá hàng hóa dịch vụ bị đội lên, khó mà cạnh tranh. DNNN thì ngày càng thua lỗ, thế mà phải “nuôi” thêm các anh “báo hại”! Bởi thế mà anh Lê Hữu Thăng, hiện là phó chủ tịch tỉnh Quảng Trị, hồi làm giám đốc Công ty Xuất Nhập khẩu tỉnh, anh đã nghĩ ra được “mẹo” để tránh sự “tấn công” của các nhà báo quảng cáo. Anh làm một văn bản, bộ tứ công ty ký vào, quy định một năm chỉ làm quảng cáo trên 2 tờ báo vào dịp Tết hay lễ ở báo tỉnh, báo ngành. Anh dán tờ “yết thị” đó lên. Nhà báo tới đành im lặng rút lui!

Có nhiều chiêu làm quảng cáo lắm. Viết một bài ca ngợi thành tích công ty, gọi là “ viết cho”, rồi bắt doanh nghiệp “trả ơn” bằng cái quảng cáo. Kiếm mấy em thật tươi mát, nhận làm hợp đồng, các em sẽ “ngồi lỳ” ở phòng giám đốc suốt buổi, giám đốc ngán quá phải “ ký”, hoặc các em sẽ “chiều chuộng”,” liếc mắt đưa tình” giám đốc để được cái quảng cáo. Tiền chùa mà, mất gì! Đã có thư tố cáo ông giám đốc M. chi cho cô bồ nhí là ”phóng viên quảng cáo” của tờ báo nọ trong mấy tháng hơn 400 triệu đồng quảng cáo. Ở tỉnh nọ, các nhà báo tỉnh gọi đi làm quảng cáo là “ đi đọc lệnh”. Có nghĩa là cứ đến doanh nghiệp bắt giám đốc ký, vì giám đốc nào cũng có “gót chân A-Sin” mà nếu tiết lộ lên báo là gay! Hoa hồng cho người làm quảng cáo từ 30 % có báo chi trả 40, 45%, nên có nhà báo từ xe đạp “chân co chân duỗi”, vào nghề chỉ mấy năm làm quảng cáo đã xây được nhà bốn lầu, mua xe hơi… Thế là Tòa soạn báo thành cơ quan đi... đánh quả quảng cáo! Đó là tham những chứ gì nữa! 

Chuyên đề... “lừa” ?!

Hiện nay có rất nhiều tờ báo, tạp chí, cũng gọi là cơ quan báo chí với đủ ban bệ, nhưng không bao giờ làm báo cả! Thế họ sống bằng gì ? Xin thưa: bằng việc xuất bản các “chuyên đề… lừa”. Qua tìm hiểu nhiều báo, tôi biết cách làm của họ như sau. Chạy xin giấy phép, đặt tên thật oách, kiểu “Tiềm năng đầu tư của tỉnh…”, hay” Tỉnh…rải thảm đỏ mời các nhà đầu tư”…, Phóng viên trang bị máy ảnh kỹ thuật số xịn, đeo hai ba cái trước nực, tay xách laptop kè kè, để lòe thiên hạ. Rồi ông Tổng biên tập lên xin ông Thứ trưởng, Bộ trưởng cái thư gửi cho Bí thư, chủ tịch các tỉnh, đề nghị phối hợp làm chuyên đề “ giới thiệu tiềm năng đầu tư của địa phương” hay lễ hội, festival v.v.. Các tỉnh nghe nói “đầu tư nước ngoài” mừng lắm, vì đây là mốt mà! Ông TBT mới tán thêm là “tờ báo của mình in song ngữ, phát hành đi hơn trăm nước trên thế giới, ti-ra hai triệu bản”. Thế hợp đồng làm “Chuyên đề về tiềm năng kinh tế, mời gọi đầu tư của tỉnh X” được ký. Ngoài việc tỉnh chi số tiền in ấn lên tới hàng trăm triệu đồng, chủ tịch tỉnh còn ký công văn “bắt“ hàng trăm doanh nghiệp mạnh trong tỉnh tham gia quảng cáo, mỗi doanh nghiệp 15 – 20 triệu đồng. Sau đó họ thuê người viết bài, chụp ảnh, dịch, cộng thêm trích đoạn nghị quyết tỉnh, bài phỏng vấn kèm ảnh ông bí thư, chủ tịch in trang đầu, thế là được cuốn “chuyên đề” dày khoảng 100 trang, in song ngữ Việt - Anh. Người viết bài này cũng đã từng được thuê viết bài “tiềm năng…” như vậy. Họ chỉ in 700 bản, nộp lưu chiểu, báo biếu 200 bản, còn 500 bản mang về bán lại cho tỉnh với 150 ngàn / 1 cuốn (đã bỏ tiền ra in rồi lại phải bỏ tiền ra mua!). Chỉ một “chuyên đề... lừa” như vậy, tòa báo đã kiếm được vài tỷ đồng ngon ơ! Có tòa soạn đã lần lượt làm được 61 chuyên đề tỉnh, hàng chục chuyên đề ngành, nhưng chẳng mang lại cho xã hội ích lợi nào! Những tờ báo như vậy không bao giờ xuất hiện trên thị trường, cũng không ai đặt mua qua bưu điện! Đó là tham nhũng chú gì nữa! 

Có một loại sách… để trên bàn cho vui!

Người biết bài này thường thấy trên bàn làm việc của ông bạn giám đốc DN một chồng sách lớn, cuốn nào cũng dày cộp. Đó chỉ là “ sách… quảng cáo” do đủ loại Nhà xuất bản và cơ quan báo chí ấn hành.! Cuốn nào cũng có tên gọi thật kêu. Ví dụ như Từ điển doanh nghiệp Việt Nam, Cẩm nang doanh nghiệp Việt Nam, Doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam, Hàng Việt Nam chất lượng cao, Doanh nhân vàng thời mở cửa.v.v..Tôi hỏi ông bạn: Sách này để làm gì? Ông trả lời: Để trên bàn cho.. vui! Cứ một doanh nghiệp một trang giới thiệu rất đơn giản: tên doanh nghiệp, địa chỉ, điện thoại, Fax, ảnh trụ sở cơ quan, ảnh giám đốc v.v. cuốn gọi là “Cẩm nang doạnh nghiệp” chỉ có 500 trang, nghĩa là chỉ 500 DN, trong lúc đó ở nước ta có gần 500.000 doanh nghiệp? Thế thì “từ điểm”, “cẩm nang“ cái nỗi gì! Nhưng mà làm được 500 trang quảng cáo đóng thành “sách” ấy, tòa soạn báo đã thu được 2,5 tỷ đồng doanh thu (5 triệu đồng / trang, chưa tính 3 trang bìa 4, 3,2, mỗi trang từ 20 – 50 triệu đồng), trừ chi phí hoa hồng, tiền chế bản màu, in ấn, còn lãi ròng cả tỷ đồng! Bởi thế mà rất nhiều báo, nhà xuất bản năm nào cũng làm “Sách... quảng cáo” với nhiều tiêu chí khác nhau, nhưng tất cả cuốn sách ấy đều không giúp ích được gì cho doanh nghiệp trong kinh doanh, chiếm lĩnh thị trường. Đó là tham nhũng chứ gì nữa! 

Vĩ thanh

Tôi không bao giờ phản đối việc quảng cáo trên báo chí. Vì quảng cáo càng nhiều chứng tỏ nền kinh tế càng phát triển. Nhưng quảng cáo theo kiểu “đi xin”, “ đi đọc lệnh”, hay “làm chuyên đề”, “sách... quảng cáo”... theo hình thức “lừa đảo” đã kể ở trên là làm khổ doanh nghiệp, là báo hại nền kinh tế đất nước. Các tòa soạn báo ơi, nhà báo ơi, tiền báo thu được từ quảng cáo đó là tiền thua lỗ của các doanh nghiệp cả đấy. Đây là một hiện tượng không lành mạnh nhưng rất phổ biến của báo chí hiện nay. Đề nghị các cơ quan chức năng có biện pháp giúp các báo nâng cao chất lượng bài vở sống được bằng nghề làm báo của mình!

Nguồn: Ngô Minh Blog
Read more…

Đức Thánh Cha bổ nhiệm Giám mục Phụ tá cho Giáo phận Vinh và Hưng Hóa

7:12 PM |
Đức Thánh Cha bổ nhiệm Giám mục Phụ tá cho Giáo phận Vinh và Hưng Hóa
15.06.2013

Tân Giám mục Phụ tá GP Vinh Phêrô Nguyễn Văn Viên
GPVO - Ngày 15-6-2013, Văn phòng báo chí Tòa Thánh loan tin Đức Thánh Cha Phanxicô đã bổ nhiệm các Giám mục Phụ tá cho 2 giáo phận Vinh và Hưng Hóa. Linh mục Phêrô Nguyễn Văn Viên, Tổng Đại diện Giáo phận Vinh, được bổ nhiệm làm Giám mục phụ tá giáo phận này với hiệu tòa Megalopoli di Proconsolare; và linh mục Alphongsô Nguyễn Hữu Long, thuộc tu đoàn Xuân Bích, Giám đốc Đại Chủng viện Huế, được bổ nhiệm làm Giám mục Phụ tá Giáo phận Hưng Hóa, hiệu tòa Gummi di Bizacena.

Chúng ta cùng hiệp ý dâng lời tạ ơn Thiên Chúa về những hồng ân mà Ngài vừa ban cho Giáo Hội Việt Nam, cách riêng cho hai giáo phận Vinh và Hưng Hóa.

Đức tân Giám mục Phêrô Nguyễn Văn Viên sinh ngày 08-01-1965 tại giáo xứ Hướng Phương, Quảng Trạch, Quảng Bình, Giáo phận Vinh.
Từ 1987- 1992: Theo học tại Đại học Nông lâm - Huế, tốt nghiệp Cử nhân Khoa học Kinh tế.
Ngày 14-10-1993: Vào Đại Chủng viện Vinh Thanh.
Ngày 3-10-1999: Thụ phong linh mục.
Từ 2000-2009: Tu nghiệp tại Học viện Công giáo Sydney (Australia), tốt nghiệp với học vị Tiến sĩ Thần học Tín lý. Trong thời gian du học, ngài cũng làm việc mục vụ cho cộng đoàn Việt Nam tại đây.
Từ 2009: Được bổ nhiệm làm Phó Giám đốc kiêm Giáo sư Tín lý tại Đại Chủng viện Vinh Thanh.
Ngày 20-11-2010: Được bổ nhiệm làm Tổng Đại diện Giáo phận Vinh.
Đức tân Giám mục Alphongsô Nguyễn Hữu Long sinh ngày 25-01-1953, theo học tại Tiểu Chủng viện thánh Gioan tại Đà Nẵng từ năm 1965 đến 1972 và Đại chủng viện Hòa Bình cũng tại giáo phận này từ năm 1972 đến 1978. Thầy Long thụ phong linh mục ngày 29-12-1990 thuộc giáo phận Đà Nẵng và gia nhập Tu đoàn Xuân Bích.

Sau khi thụ phong linh mục, Cha Alphongsô Long đảm nhận các công việc sau đây:
Từ 1990-1994: Phó xứ Tam Kỳ, Đà Nẵng.
Từ 1994-1998: Theo học và tốt nghiệp Cử nhân Giáo luật tại Học viện Công giáo Paris, Pháp.
Từ 1999-2001: Cha sở giáo xứ Hà Lam, Giáo phận Đà Nẵng
Từ 2001-2003: Cha sở Trà Kiệu, Giáo phận Đà Nẵng
Từ 2003-2011: Linh hướng và Giáo sư Giáo luật, Giáo sử và Huấn giáo tại Đại Chủng viện Huế.
Từ 2011: Giám đốc Đại Chủng viện Huế.


GPVO

Read more…

Nhớ Bố ngày Hiền phụ

7:17 PM |


Nhớ Bố ngày Hiền phụ

16.06.2013

"Chúa dạy con biết đường về cõi sống,
trước Thánh Nhan, ôi vui sướng tràn trề,
ở bên Ngài hoan lạc chẳng hề vơi!
Thánh Vịnh" (16:11)
*******************
Bố tôi qua đời đã mười hai năm, nhưng gương sáng về cách sống của Người vẫn hiện diện trong tôi. Người đã lưu lại cho tôi tất cả gia tài tinh thần của người, cũng như cho mỗi một con cháu, để càng ngày tôi càng cảm thấy gia tài đó thật qúi giá. Bây giờ tôi mới hiểu ra vì sao lúc nào Người cũng tươi cười, ngay cả khi cuộc sống gặp muôn vàn khó khăn lao nhọc. 
Chúa đã ban cho Người đời sống hết sức dồi dào, đầy ơn sủng: Người được sống đến tuổi già, nhìn đàn con cháu đông đúc, và biết bao thân quyến bạn bè, ai ai cũng qúy mến thương yêu Người. 
Sinh ra trong thời loạn ly, Người đã chia sẻ khổ đau của quê hương đất nước. Bốn lần vượt biển cam go, và các lần lánh nạn lớn nhỏ khác, người đã ôm trọn gia đình đem đến chỗ bằng an. Trong các chuyến đi, lúc nào chiếc ghe của Người cũng có người ngoài; Người sẵn sàng chia bớt nơi ăn chỗ nằm với họ. 
Người đã thương yêu tận tụy chăm sóc mẹ tôi. Người làm những việc lớn nhỏ để bà đỡ vất vả, và chiều ý bà ngay cả khi trái ý Người. Nhờ vậy mà trong nhà lúc nào cũng đầm ấm, các con, mặc dầu đã lập gia đình, cũng muốn trở về. 
Người đã hết lòng thương yêu, nuôi nấng dạy dỗ các con. Tần tảo vất vả sớm hôm, lúc ngoài khơi, khi trên bờ, lúc nào Người cũng làm việc hết sức mình để chu cấp cho gia đình. Người vui khi thấy tôi chăm chỉ học hành, và nhảy mừng khi được tôi báo tin thi đậu. Người hiền lành đến nỗi, có khi tôi làm điều lầm lỗi,Người cũng không la rầy trách mắng. Bất kể rể dâu, Người đều nhường nhịn bênh vực. Người cưng chiều cháu chắt và luôn luôn có mặt trong các dịp vui buồn. 
Người dạy cho tôi biết tôn trọng người trên, thương yêu mọi người, và chăm lo thờ phượng Chúa. Tôi còn nhớ, vào mỗi mồng Một Tết, Người thức chúng tôi dậy sớm, lần chuỗi ba tràng, đọc kinh cầu. Người nói,“Mình phải đọc kinh để cầu cho quê hương đất nước, cho tổ tiên, ông bà…” 
Khi có miếng ngon, Người chia sớt với bà con, ngay cả khi túng thiếu, Người cũng tìm cách giúp đỡ. Với người quen biết cùng khổ, người càng để ý chăm nom. 
Nhà của Người không bao giờ vắng khách. Bạn bè của Người lui tới thường xuyên, khi công chuyện làm ăn, khi sinh hoạt cộng đoàn; Người lạ hay quen, Người đều tiếp đón niềm nở. Người sốt sắng tham gia việc chung, ngay cả khi tuổi già sức yếu, nêu gương phục vụ mọi người. Trong mọi việc, Người luôn tươi cười vui vẻ, biểu lộ lòng thương người một cách chân thành bình dị. 
Người phó thác mọi điều trong sự quan phòng của Chúa, mà tôi nghĩ đó là bí quyết cuộc sống mang lại hạnh phúc cho Người. 
Những ngày cuối đời, Người nằm ở nhà dưỡng lão, gánh chịu đớn đau thể xác, đền bù tội lỗi cho tôi và các con cháu. Những lần ghé thăm và đút cho người ăn, tôi sung sướng vô cùng. Lần nào Người cũng ăn hết mâm cơm. Với căn bệnh quên Alzheimer như của cố Tổng thống Reagan, nhưng khi nghe đọc các câu kinh quen, người im lặng lắng nghe và như muốn đọc theo. Gần gũi Người tôi thấy thật vui, vì biết mình còn bố, vì Người sống thọ. 
Bây giờ Người đã ra đi và mỗi khi có dịp hồi tưởng, như trong ngày Hiền Phụ, tôi nhớ các gương sáng củaNgười. Tôi muốn bắt chước Người, nhất là sự bình tâm phó thác, lòng thương yêu tha nhân như Người đã thể hiện. Gia sản đó thật qúy giá nhưng cũng nhiều thách đố, vì sống được như Người quả là một hồng ân mà Chúa đã ban cho.


Trần Hiếu
Read more…

Những đàn ông Việt 'hèn nhát bên chai rượu'

9:47 PM |

Có bao nhiêu lần bạn chi quá mức cho bia rượu, bị người khác gài độ để rồi hôm sau thấy mình dại?

Năm nay tôi 35 tuổi nhưng có khoảng 15 năm biết đến bia rượu và đã trải qua bao nhiêu “trận chiến” trên bàn nhậu với hàng chục lý do khác nhau. Chưa bao giờ tôi say xỉn làm mất trật tự ngay tại quán hay làm phiền những người xung quanh. Cũng chưa một lần lái xe va quẹt ai sau khi uống bia rượu, nhưng những năm gần đây, tôi đã tự nhận thức được vấn đề và hạn chế bia rượu rất nhiều. Thỉnh thoảng chỉ uống vài chai cho vui. Nếu chầu nào “nặng” quá thì tôi đón xe ôm đến quán hoặc gởi xe tại quán, đón xe ôm hoặc taxi để về. Các chiến hữu của tôi, hãy một lần thực lòng trả lời với chính mình:

Có bao nhiêu lần bạn lái xe về nhà an toàn, khóa cửa cẩn thận nhưng nửa đêm giật mình thức dậy và thậm chí không nhớ được làm sao mình có thể về đến nhà? Khi bước ra từ quán, bạn cứ cho rằng mình lái xe cẩn thận nhưng thật ra đó chỉ là sự may mắn cho tính mạng chính bạn và những người đi đường. Quá sức nguy hiểm!
Có bao nhiêu lần bạn ra khỏi quán, ngồi lên xe là lái như bay, lạng lách thật nhanh vì nhiều lý do khác nhau? Vì đã quá khuya, vì có một thằng nào “thấy ghét” chạy song song với bạn. Hay đơn giản là lúc đó bạn quá bốc đồng. Nếu không nghĩ đến những người đang đi trên đường, hãy nghĩ về ba mẹ, vợ con, những người thân yêu đang phụ thuộc vào mình. Để rồi sáng mai, bạn cảm thấy mình ngu xuẩn và anh hùng rơm nhất trên đời. Bạn tự cảm thấy xấu hổ, tự nhủ không có lần sau nhưng đâu lại vô đó.
Có bao nhiêu lần bạn quá chén và lỡ lời? Bạn nói chuyện thật to nhưng cứ cho rằng mình lịch sự. Bạn làm mắc lòng người khác… Khi có nhiều hơi men, con người bao giờ cũng cho mình tỉnh táo và rất dễ mất tư cách cho dù bình thường bạn đạo mạo đến đâu.
Có bao nhiêu lần bạn bày ra đủ thứ lý do khác nhau để uống rượu? Bạn nói với mẹ, với vợ con là phải nhậu tới bến mới làm ăn được. Phải xây dựng mối quan hệ. Bạn uống thi với người khác trăm phần trăm, khích bác, chê bai những người uống yếu, ép tiếp thị bia/rượu phải cụng ly với mình. Bản thân tôi đã bắt đầu làm quản lý cho các tập đoàn và tự kinh doanh gần chục năm rồi nên tôi biết, tất cả những lý do đó chỉ là ngụy biện.
Đó là sự hèn nhát. Chỉ những người đàn ông uống bia rượu có chừng mực mới là đáng nể trọng.
Có bao nhiêu lần bạn chi quá mức cho bia rượu, bị người khác gài độ để rồi hôm sau thấy mình dại. Việt Nam là nước đang phát triển, thu nhập thấp nhưng uống bia rượu nhiều thứ hai tại Châu Á. Việt Nam là thị trường bia lớn nhất của Tiger và là một trong những thị trường quan trọng nhất thế giới của Heineken. Có hay ho gì đâu? Càng nghèo thì càng nhậu nhiều. Càng nhậu nhiều thì càng nghèo.
Có bao nhiêu lần bạn gây gổ với vợ con hoặc gia đình của mình chỉ vì bia rượu. Bắt người nhà phải hồi hộp chờ đợi, bỏ cơm vì mình. Rạn nứt, tan nát gia đình. Có đáng mặt đàn ông không?
Từ khi biết vợ mang thai, tôi ít nhậu lại hẳn. Cứ nghỉ đến cảnh mình có bề gì thì con cái thế nào, rồi ba mẹ mình nữa. Các bạn, gia đình đặc biệt là con cái cần các bạn lắm.
Đừng ích kỷ nữa.
Tôi hoàn toàn ủng hộ chuyện cảnh sát giao thông xử phạt những người lái xe với nồng độ cồn vượt mức cho phép. Phải làm thường xuyên, phạt thật nặng.
Các bạn, tôi đã đến nhiều nơi trên thế giới rồi. Đất nước nào cũng vậy. Bạn uống bia rượu và phải tự kiểm soát hành vi của mình. Nếu không, phạt rất nặng. Có nơi nào nhậu nhẹt tràn lan, gây bao hệ lụy như Việt Nam này đâu?
Ở huyện Tân Thành, Bà Rịa Vũng Tàu, ngay ngã ba Mỹ Xuân, từ quốc lộ 51 quẹo vào Hắc Dịch, chỉ chưa đến 1 cây số nhưng bao năm qua, hai bên đường có đến khoảng 30 quán nhậu lớn nhỏ đủ loại. Những người say xỉn cứ phóng xe ào ào và là nổi ám ảnh của bao nhiêu người dân hai bên đường.
Đã có nhiều tai nạn thương tâm chết người xảy ra ở khu vực này. Các anh công an nên chốt chặn hai đầu con đường ăn nhậu này, góp phần đảm bảo được sự an toàn cho người dân. Chúng tôi sẽ rất biết ơn.
Riêng cánh đàn ông Việt Nam mình hãy thức tỉnh đi. Đừng ngụy biện nữa.
Nguyễn Minh
Read more…

Tu sĩ Dòng Tên người Myanmar đầu tiên được phong chức linh mục

7:15 PM |
Tu sĩ Dòng Tên người Myanmar đầu tiên được phong chức linh mục
13.06.2013
Thầy Wilbert Mireh, SJ, đã được phong chức linh mục tại Nhà thờ Chính toà Loikaw ở Myanmar tháng 5 vừa qua. Với việc phong chức này, ngài trở thành tu sĩ Dòng Tên Myanmar đầu tiên được phong chức linh mục kể từ khi Dòng Tên được thành lập cách đây 473 năm.
Có 20 linh mục Dòng Tên hiện diện trong Thánh lễ cùng với Cha Wardi Saputra là giám tập của Cha Mireh. “Cách đây khá lâu, Đức cha Matthias U. Shwe, Giám mục Giáo phận Taunggyi, hỏi tôi: ‘Khi nào thì chúng ta sẽ có một tu sĩ Dòng Tên được phong chức linh mục ở Myanmar?’”, Cha Saputra, người từ Indonesia đến Myanmar năm 1998 để thiết lập một nhà tập, nhớ lại.

Đối với Cha Mireh, lễ phong chức là một khoảnh khắc ân sủng, qua đó ngài đã cảm nhận được phúc lành của Thiên Chúa ban trên cuộc đời của ngài. Trong khi ý thức được những trách nhiệm mà ngài sẽ gánh vác khi trở thành linh mục Dòng Tên đầu tiên của nước Myanmar, Cha Mireh nói rằng ngài cảm nhận được sự nâng đỡ lớn lao đến từ nhiều người xung quanh ngài.

“Thật là một đặc ân và tôi cảm thấy mình rất sẵn sàng để bắt đầu sứ vụ của mình. Tôi đã ao ước làm điều này từ rất lâu rồi. Trong tư cách là một tu sĩ Dòng Tên, tôi thấy mình đang tràn đầy tinh thần truyền giáo”, tân linh mục nói.

Mặc dù các tu sĩ Dòng Tên Bồ Đào Nha đã mang đạo Công giáo đến Vương quốc Pegu từ những năm đầu của thế kỷ 17 và Tỉnh Dòng Tên Maryland của Hoa Kỳ đã làm việc ở Myanmar (còn gọi là Burma) từ thập niên 50 và 60 của thế kỷ 20, nhưng tình hình chính trị phức tạp đã cản trở sự phát triển của Dòng Tên tại đây. Kể từ khi các tu sĩ Dòng Tên trở lại phục vụ Myanmar từ năm 1998, họ đã cộng tác với Giáo hội Myanmar trong việc huấn luyện các tu sĩ trẻ và mang đến nhiều chương trình giáo dục cho những người bị tổn thương sau nhiều năm sống dưới chế độ nhà nước quân sự.

Lễ phong chức mang tính lịch sử này cũng là một dấu mốc quan trọng đối với những ân nhân khắp thế giới vốn là những người đang hỗ trợ cho sứ mạng truyền giáo của Dòng Tên tại Myanmar. Ngoài ra, theo Cha Irsan Rimawal, SJ, đương kim giám tập Dòng Tên tại Myanmar, việc có thêm một linh mục Dòng Tên người địa phương cho Giáo hội Myanmar sẽ mang đến nhiều ích lợi cho anh chị em tín hữu.

 “Trước hết, là người địa phương họ sẽ hiểu nền văn hoá và tình trạng đất nước của họ hơn là các Giêsu hữu ngoại quốc. Hơn nữa, tôi nghĩ rằng việc có một linh mục Dòng Tên người địa phương sẽ tạo cơ hội lớn cho Dòng Tên tham dự và cộng tác với đời sống của Giáo Hội Myanmar”, Cha Rimawal nói.

Cha Mireh sẽ bắt đầu việc mục vụ của ngài ở Giáo phận Loikaw, nơi ngài đã lớn lên và được huấn luyện về đức tin, trong khi các anh em Giêsu hữu của ngài đến từ Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Hàn Quốc và Úc sẽ tiếp tục công việc xây dựng và phát triển sứ mạng truyền giáo còn non trẻ của Dòng Tên tại Myanmar.




Tân linh mục Mireh, mẹ và anh trai


Chỉnh Trần, S.J.chuyển ngữ

(Nguồn: dongten.net)
Read more…

HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VN: TOÀN VĂN NHẬN ĐỊNH VÀ GÓP Ý SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP

10:52 PM |

HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VN: TOÀN VĂN NHẬN ĐỊNH VÀ GÓP Ý SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP



HI ĐNG GIÁM MC VIỆT NAM - NHN ĐNH VÀ GÓP Ý 
SA ĐI HIN PHÁP 1992

WHĐ (01.03.2013) – Sáng nay, 01-03-2013, linh mục Giuse Dương Hữu Tình, Thư ký Hội đồng Giám mục Việt Nam (HĐGMVN), đã đến và trao Thư góp ý của Ban Thường vụ HĐGMVN cho Thường trực Ban biên tập - Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, tại số 37 Hùng Vương, quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội. 

Sau đây, chúng tôi xin giới thiệu toàn văn Thư góp ý của Ban Thường vụ HĐGMVN:

Bấm vào đây để đọc rõ hơn: http://hdgmvietnam.org/thu-cua-hoi-dong-giam-muc-viet-nam-nhan-dinh-va-gop-y-sua-doi-hien-phap/4750.116.3.aspx

 

Đây là bản text, blogger J.B. Nguyễn Hữu Vinh đăng lại để tiện trích lục văn bản:

Hội đồng Giám mục Việt Nam
40 Phố Nhà Chung - Hà Nội 

CÁC GIÁM MỤC CÔNG GIÁO VIỆT NAM 
NHẬN ĐỊNH VÀ GÓP Ý
DỰ THẢO SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP NĂM 1992
(SỬA ĐỔI NĂM 2013)


Nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã công bố bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp (sau đây gọi tắt là Dự thảo) để lấy ý kiến nhân dân từ ngày 2.1.2013 đến ngày 31.3.2013. Chúng tôi tán thành việc làm này, vì Hiến pháp của một quốc gia trước hết và trên hết phải là của chính người dân, do ý thức trách nhiệm của người dân và để phục vụ mọi người dân, không loại trừ ai. Ý thức trách nhiệm công dân, nhân danh Hội đồng Giám mục Việt Nam, Ban Thường vụ kính gửi đến Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 và nhân dân cả nước một số nhận định và góp ý.

I. Quyền con người 

Bản Dự thảo đã dành cả chương II (điều 15-52) để nói về quyền con người. Quyền con người đã được chính thức nhìn nhận trong Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người (10.12.1948), và Việt Nam cũng đã ký kết. Bản Dự thảo đã liệt kê khá đầy đủ những quyền căn bản của con người. Vấn đề là làm thế nào để những quyền ấy được hiểu đúng, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo pháp luật trong thực tế? 

Quyền con người là những quyền gắn liền với phẩm giá con người, do đó là những quyền phổ quát, bất khả xâm phạm và bất khả nhượng. Phổ quát vì tất cả mọi người, thuộc mọi thời và mọi nơi, đều được hưởng những quyền đó. Bất khả xâm phạm vì xâm phạm là tước đoạt phẩm giá làm người. Bất khả nhượng vì không ai được phép tước đoạt những quyền đó của người khác. 

Quyền bính chính trị được nhân dân trao cho nhà cầm quyền là để tạo điều kiện pháp lý và môi trường thuận lợi cho việc thực thi quyền con người, chứ không phải để ban phát cách tùy tiện. Do đó, để quyền con người thật sự được “Nhà nước và xã hội thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo hiến pháp và pháp luật” (điều 15), chúng tôi thấy cần làm sáng tỏ một số điều. 

Dự thảo khẳng định quyền tự do ngôn luận (điều 26), quyền sáng tạo văn học, nghệ thuật (điều 43), quyền tự do tín nguỡng, tôn giáo (điều 25). Tuy nhiên, ngay từ đầu, Dự thảo lại khẳng định đảng cầm quyền là “lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng” (điều 4). Như thế, phải hiểu thế nào và làm sao thực thi quyền tư do ngôn luận và sáng tạo văn học, nghệ thuật, bởi lẽ tư tưởng đã bị đóng khung trong một chủ thuyết rồi? Tương tự như thế, phải hiểu thế nào và làm sao thực thi quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, bởi lẽ chủ nghĩa Mác-Lênin tự thân là chủ nghĩa vô thần? Phải chăng những quyền này chỉ là những ân huệ được ban cho nhân dân tùy lúc tùy nơi, chứ không phải là quyền phổ quát, bất khả xâm phạm, và bất khã nhượng? Hiến pháp cần phải xóa bỏ những mâu thuẫn và bất hợp lý này, thì mới có sức thuyết phục người dân và thu phục lòng dân.

Trong thực tế, sự trói buộc tư tưởng vào một hệ ý thức duy nhất đã kìm hãm tư duy sáng tạo của người dân Việt Nam. Ðây là một trong những lý do lớn, dẫn đến tình trạng trì trệ và chậm tiến của Việt Nam về nhiều mặt: giáo dục, khoa học và công nghệ, văn hóa và nghệ thuật. Nếu cần một nền tảng, chúng tôi thiết nghĩ đó phải là truyền thống văn hóa phong phú của dân tộc Việt Nam, chứ không phải một hệ ý thức nào khác. Truyền thống văn hóa ấy đã được hình thành trãi qua nhiều thế kỷ, giúp dân tộc Việt Nam xây dựng và phát triển đất nước, kiến tạo lối sống đầy tính nhân văn. Nền văn hóa đó chính là nền tảng cho đời sống xã hội của dân tộc Việt Nam, những tư tưởng mới có thể và cần được đón nhận để bổ túc cho phong phú, nhưng không thể thay thế. Có như vậy mới mong giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc giữa những thay đổi mau chóng của thời đại toàn cầu hóa ngày nay.

Do đó, chúng tôi đề nghị: 

l. Hiến pháp cần xác định rõ: mọi người đều tự do và bình đẳng về phẩm giá và quyền. Quyền con người là những quyền gắn liền với phẩm giá làm người, và vì thế, là những quyền phổ quát, bất khả xâm phạm, bất khả nhượng. 

2 . Lấy truyền thống văn hóa dân tộc làm nền tảng tư tưởng cho việc tổ chức và điều hành xã hội Việt Nam. 

3. Nêu rõ nội dung quyền được sống (đối chiếu với điều 21 Dự thảo): mọi người đều có quyền sống. Không ai được phép tước đoạt sự sống của người khác, từ khi thành thai đến khi chết. Nhà nước có nhiệm vụ bảo vệ sự sống con người. Mọi người đều có quyền bảo vệ sự sống của mình, miễn là không làm tổn hại đến sự sống của người khác. 

4. Nêu rõ quyền tự do ngôn luận (đối chiếu điều 26 Dự thảo): mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, tự do trình bày quan điểm và niềm tin của mình. 

5. Nêu rõ quyền tự do tôn giáo (đối chiếu điều 25 Dự thảo): mọi người đều có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Quyền này bao hàm việc tự do theo hay không theo một tôn giáo nào, tự do thực hành các nghi lễ tôn giáo, cá nhân hoặc tập thể. Không tôn giáo nào hoặc chủ thuyết nào được coi là bó buộc đối với người dân Việt Nam. Nhà nước không tuyên truyền tiêu cực về tôn giáo, không can thiệp vào công việc nội bộ của tôn giáo như: đào tạo, truyền chức, thuyên chuyển, chia tách sát nhập... Các tổ chức tôn giáo có quyền tự do hoạt động xã hội cộng đồng như giáo dục, y tế...

II. Quyền làm chủ của nhân dân 

Quyền bính chính trị cần thiết để điều hành xã hội, nhưng chủ thể của quyền bính chính trị phải là chính nhân dân xét như một toàn thể trong đất nước. Nhân dân trao việc thi hành quyền bính ấy cho những người có năng lực và tâm huyết mà họ bầu làm đại diện cho họ, bất kể người đó thuộc đảng phái chính trị hoặc không thuộc đảng phái nào. Chỉ khi đó mới có Nhà nước pháp quyền “của dân, do dân và vì dân” (Lời nói đầu). Vì thế việc tự do ứng cử của mỗi công dân là đòi hỏi tất yếu trong một xã hội dân chủ, văn minh và lành mạnh. Ðồng thời việc bỏ phiếu công khai, khách quan và công bằng, là đòi hỏi cần thiết để người dân có được những đại diện mà họ tín nhiệm. Chính nhân dân có quyền đánh giá năng lực của những đại diện họ đã bầu, và khi cần, họ có quyền thay thế những đại diện đó. 

Do đó, chúng tôi đề nghị: 

l. Hiến pháp cần phải làm nổi bật quyền làm chủ của nhân dân, không chỉ bằng một mệnh đề lý thuyết nhưng cần được thể hiện trong những điều khoản cụ thể của Hiến pháp, và có thể thi hành trong thực tế. Bản Dự thảo khẳng định: “Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” (Ðiều 2). Nhưng trong thực tế, công nhân, nông dân và trí thức là những thành phần chịu nhiều thiệt thòi nhất trong xã hội. Thực tế đó cho thấy khẳng định về quyền làm chủ của nhân dân chỉ có trên giấy tờ và lý thuyết. 

2. Ðể tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân, trong Hiến pháp không nên và không thể khẳng định cách tiên thiên sự lãnh đạo của bất kỳ đảng phải chính trị nào (X. điều 4), vì chủ thể của quyền bính chính trị là chính nhân dân, và nhân dân trao quyền bính đó cho những người họ tín nhiệm qua việc bầu chọn. Những cá nhân được bầu phải chịu trách nhiệm trước nhân dân về việc họ làm, chứ không thể là một tập thể mơ hồ rồi cuối cùng không ai chịu trách nhiệm cả. 

3. Hiến pháp hiện hành chỉ công nhận quyền sử dụng đất chứ không công nhận quyền sở hữu đất của công dân. Ðiều này đã gây ra nhiều lạm dụng và bất công nghiêm trọng. Vì thế, Hiến pháp mới cần công nhận quyền sở hữu đất đai của công dân và các tổ chức tư nhân như tuyệt đại đa số các quốc gia trên thế giới. 

4. Hiến pháp phải tôn trọng quyền tham gia hệ thống công quyền ở mọi cấp, của mọi công dân, không phân biệt thành phần xã hội, sắc tộc, tôn giáo... 

III. Thi hành quyền bính chính trị 

Quyền bính chính trị mà nhân dân trao cho nhà cầm quyền được phân chia thành quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Ðể những quyền bính này được thi hành cách đúng đắn và hiệu quả, cần có sự độc lập chính đáng của mổi bên và vì công ích của toàn xã hội. Trong thực tế của Việt Nam nhiều năm qua, đã không có được sự độc lập này, dẫn đến tình trạng lạm quyền và lộng quyền, gây ra nhiều bất công, suy thoái về nhiều mặt: kinh tế, xã hội, đạo đức. Cuối cùng, người dân nghèo phải gánh chịu mọi hậu quả và Việt Nam, cho đến nay vẫn bị xem là một nước kém phát triển. 

Nguyên nhân sâu xa là không có sự phân biệt giữa đảng cầm quyền và Nhà nước pháp quyền. Điều này thể hiện ngay trong nội dung của Hiến pháp 1992, và Dự thảo vẫn tiếp tục đường lối như thế. 

Một đàng, điều 74 khẳng định Quốc hội là “cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất”; đàng khác, điều 4 lại khẳng định đảng cầm quyền là “lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. 

Vậy, ai lãnh đạo ai? Phải chăng Quốc hội chỉ là công cụ của đảng cầm quyền? Nếu như thế, việc người dân đi bầu các đại biểu Quốc hội có ý nghĩa gì? Một sự chọn lựa thật sự tự do hay chỉ là thứ dân chủ hình thức? 

Bản Dự thảo cũng dành nhiều chương dài để nói về Quốc Hội (điều 74-90), về Chủ tịch nước (điều 91-98), về Chính phủ và Thủ tướng (điều 99-106). Không có chương nào và điều nào nói về Tổng bí thư đảng cầm quyền. Ðang khi đó, thực tế là Tổng bí thư nắm quyền hành cao nhất vì cũng theo Dự thảo, đảng cầm quyền là “lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội” (điều 4)! Như thế phải chăng đảng ở trên luật pháp và ngoài luật pháp, chứ không lệ thuộc luật pháp? Nếu đảng cầm quyền đã lãnh đạo cả Nhà nước và xã hội, thì còn cần gì Quốc hội, cần gì đến Tòa án! 

Những phân tích trên cho thấy sự mâu thuẫn và tính bất hợp lý ngay trong nội dung Hiến pháp. Sự bất hợp lý này dẫn đến tình trạng bất hợp lý trong thực tế cuộc sống, là nguồn gốc của những bất công, dẫn đến bất ổn xã hội, kìm hãm sự phát triển lành mạnh và bền vững của đất nước. 

Do đó, chúng tôi đề nghị: 

l. Phải vượt qua sự bất hợp lý từ trong cấu trúc Hiến pháp, bằng cách xóa bỏ đặc quyền của bất kỳ đảng phải chính trị nào, đồng thời nhấn mạnh vai trò của Quốc hội là “cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất”, do dân bầu ra và là đại diện đích thực của nhân dân, chứ không phải là công cụ của một đảng cầm quyền nào. 

2. Xác định tính độc lập của các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; cung cấp nền tảng pháp lý cho việc thi hành những quyền này cách độc lập và hiệu quả. 

3. Luật hóa sự kiểm soát của nhân dân đối với việc thi hành pháp luật bằng những quy định cụ thể. 

Kết luận 

Những nhận định và góp ý của chúng tôi chỉ nhằm mục đích góp phần xây dựng Hiến pháp cho hợp lý và hợp lòng dân. Chúng tôi ước mong mọi người dân Việt Nam tích cực góp phần vào việc điều chỉnh Hiến pháp, phục vụ sự phát triển toàn diện và bền vững của dân tộc Việt Nam. 

Tòa Tổng Giám mục Hà Nội ngày 01 năm 03 năm 2013
 
TM. Ban Thường vụ Hội đồng Giám mục Việt Nam
Tổng thư ký
(đã ký)

Cosma Hoàng Văn Ðạt
Giám mục Bắc Ninh

Chủ tịch
(đã ký)

Phêrô Nguyễn Văn Nhơn
Tổng Giám mục Hà Nội
Read more…

Tiếng Việt ngày nay

10:25 PM |
Tiếng Việt ngày nay
 Văn Lang
Ngi nói chuyn vnhau, my anh bn ca tôi bo sao trong tiếng Vit bây gi có nhiu cái l lùng, không hiu đưc.  Nhiu ch thì nhp vô nguyên văn ca tiếng Tàu dù trưc đây Vit Nam đã có sn:  nào là “tiu phu”, “đi tu”, “h khu”; nào là “đi gia”, “nhp khu”, vv...   Tiêu biu hơn c là my ch “h quyết tâm”.  “Cương quyết” thì không nói, mà đng vào cái gì cũng “h quyết tâm”.  Ri còn có nn ghép ch mt cách cu th, rt dao to búa ln như “gii phóng mt bng” , “khng chếtc đ”,  “x lý ht ging”, “lý gii vn đ”, “phn đu ci thin cht lưng ba ăn”...  Đó là chưa k nhng hiu sai haydùng sai, như “thp niên” thì viết là “thp k”, hoc dùng ch “k n” đ ch mt ph n có tài (k năng) trong khi xưa nay qung đi qun chúng đã biết thế nào là mt k n:
Li k n đã v vì nưc mt
Cu
c yêu đương
 gay gt v làng chơi  [Xuân Diu]
Dĩ nhiên sau mt lúc b ng thì mi ngưi cũng hiu đưc nhng t ng đó bây gi đang có nghĩa như thế nào.  Khong 5-7 năm tr li đây trong hu hết báo chí trong c  nưc li hay viết tt v thì gi mt cách khá l lùng;  ví d “ba gi rưi” thì viết là “3h30” mà không viết là “3g30”.
Ban đu, tôi c ng là h viếtheo tiếng Pháp (dùng ch heure), nhưng nghĩ li, tiếng Pháp đã đon tuyt vi sinh hot hng ngày ca Vit Nam t lâu lm ri, làm sao có th có “tàn dư đế quc” nm li lâu đi đến thế?  Phi lâu lm tôi mi đoán đưc đây có l là do các v làm vic truyn thông và văn hoá lưi biếng, thy ngưi nào đó dùng trưc nên nhm mt đi theo mà không suy nghĩ gì.  Cũng có th đoán đưc là trong tiếng Anh “ba tiếng rưi đng h” thì viết ngn là “3h30” -- và có ngưi Vit nào đó đã hiu ch h (hour) là “gi .  Ngưi đó không phân bit đưc “ba gi” (ví d “ba gi chiu”) và “ba tiếng đng h” khác nhau ra sao (hoc có hiu mà lưi!) cho nên “ba gi rưi” thì viết là “3h30” (cho nó “sang”?).
Ti đây thì mt anh bn góp ý:
Đng ý là my ông nói đúng, nhưng cũng nên nghĩ thế này.  T 1950 cho đến ít nht là khong 1965-1970, Vit Nam (Hà Ni) là đp tư tưng “vô sn” kiu Mao Trch Đông; nghĩa là anh phi có gc gác bn c nông 3-4 đi, như thếmi “tt” và “ct cán” đ đưc tin cy, hay trng dng.  My ngưi này tuy đưc làm xếp tuy trong bng ch nghĩa không có bao nhiêu.   My ông có đi làm lâu năm thì biết, có thng nào ngu đến đ công khai “sa lưng” xếp ca mình hay chê xếp là ngu hơn mình, là kém văn hoá?  Thành ra dù có thy nga tai gai mt đi na cũng đành mũ ni che tai, “cthế mà làm” cho nó bình yên, nuôi con ăn hc …
C đám gt gù, nhìn nhau ...  Rt lâu sau đó, mt anh bn khác phá tan s im lng:
Văn hoá là mt cái gì phn ánh cuc sng con ngưi.  Bên trong ca anh ra sao thì bên ngoài nó hin ra như thế!  Cxem giao thông  Sài Gòn hay Hà Ni thì biết; thành ph quá đông đúc là mt chuyn, nhưng cái chính là gì, có phi là  thái đ (và trình đ) ca con ngưi khi lưu thông không?
Trong cái thi thế ca bây gi thì văn hoá cũng đành “thế thi phi thế” mà thôi. Nếu cuc sng không đưc tt hơn thì nhng cái lung tung, cu th ... như đã nói có th còn nhiu hơn và t hơn là đng khác.
Văn hoá, nó sinh sau đ mun, nghĩa là đến sau khi cuc sng và cách sng đã đưc xác đnh.  Nó như mt cô con gái rt nh sinh sau trong mt gia đình ln.  Gia đình bt nó ra sao thì nó đành phi thế, ngây thơ bé bng, ngay khi 14-15 tui có bt đi qua giang h bên Cam Pu Chia đi na thì nó nào biết làm sao?  Làm sao nó biết t than th như kiu:
Xưa sao phong gm r là,
Gi
 sao tan tác như hoa gia đưng
 ... ?

Văn Lang (10-04-2013)

Read more…

AI Video maker

pictory

Code type Ad code