Làn sóng bách hại các tín hữu Kitô bùng lên tại Ambon, Nam Dương

3:12 PM |
Làn sóng bách hại các tín hữu Kitô bùng lên tại Ambon, Nam Dương. 

Anbon, Indonesia (VietCatholic News 2-08-2014) - Bạo lực tôn giáo đã bùng lên tại Ambon, thủ phủ của khu vực Mollucas thuộc Indonesia, khiến bốn người chết và một làn sóng lo sợ dâng cao trong cộng đoàn Kitô Giáo tại đây.

Quân đội Indonesia đã can thiệp để ngăn chặn những cuộc tấn công nhắm vào các tín hữu Kitô hôm 31 tháng 7 năm 2014, nhưng ít nhất đã có 20 ngôi nhà bị phá hủy.

Năm 2002, căng thẳng giữa người Hồi giáo và Kitô hữu đã bùng nổ tại Mollucas, gây ra hàng ngàn trường hợp tử vong trước khi chính phủ tái lập lại được trật tự.

Indonesia, hay còn gọi là Nam Dương, với dân số 251,160,000 người, trong đó 86.1% theo Hồi Giáo là đất nước có đông người Hồi Giáo nhất trên thế giới. Tuy nhiên, các nhà lãnh đạo tại nước này tỏ ra ôn hòa và thực tiễn. Họ không chấp nhận áp dụng luật Sharia bất chấp những áp lực của các nhà lãnh đạo Hồi Giáo và của các tổ chức Hồi Giáo cực đoan. Họ e ngại những điều luật cực đoan của Sharia như cấm phụ nữ không được làm việc chung với nam giới sẽ đưa Indonesia đến chỗ tụt hậu so với các quốc gia trong vùng.

Tuy nhiên, Indonesia có một số rất đông các trào lưu Hồi Giáo cực đoan luôn kích động hận thù tôn giáo và những cuộc bạo loạn chống các tín hữu Kitô.



Ðặng Tự Do
Read more…

Thánh Lễ Phong Thánh Hai Giáo Hoàng: Gio-an XXIII và Gio-an Phao-lô II

11:17 PM |
Thánh Lễ Phong Thánh  Hai Giáo Hoàng: Gio-an XXIII và Gio-an Phao-lô II
Read more…

"Bền Tâm Cầu Nguyện" - Thánh Nữ Monica

11:12 PM |
Thánh Monica
Thánh Nữ Monica Nêu Gương 'Bền Tâm Cầu Nguyện'
Theo : xuanha.net


Kiên nhẫn cầu xin, đó là một lý do để tin rằng tôi sẽ được đền bù một cách rộng rãi.


Quả thế việc trở lại của thánh Augutinh chỉ được ban cho bà thánh Monica sau 16 năm kêu khóc. Nhưng đó cũng là một cuộc trở lại hoàn hảo vô song hơn bà ước nguyện.

Phúc đức cho 2 mẹ con thánh Monica và Augustinô

Tất cả những điều bà ước nguyện chỉ là xin được thấy sự phóng đãng của người con thanh niên được chấm dứt trong giới hạn của hôn nhân. Nhưng bà đã được sung sướng thấy chàng thực hiện những lời khuyên cao siêu nhất của đức trong sạch theo Phúc âm.

Bà chỉ cầu ước cho chàng được chịu phép thánh tẩy, được vào sổ người Công giáo, nhưng bà còn thấy chàng được bước tới chức linh mục và tới địa vị cao cả của chức Giám mục.

Bà chỉ xin Chúa cho thấy chàng thoát khỏi lạc giáo, nhưng Chúa đã biến chàng thành cột trụ Giáo hội và là tai họa cho những bè lạc giáo đồng thời.

Vậy nếu sau một hay hai năm cầu nguyện, bà mẹ đạo đức đó chán nản, nếu sau mười hay mười hai năm, thấy sự dữ cứ tăng thêm, thấy người con đáng thương đó cứ đi sâu vào lầm lạc, vào những cuộc phóng đãng, thấy thêm vào tội không trong sạch cả tội hà tiện và tham lam. Nếu lúc đó bà thất vọng bỏ mọi sự, thì bà đã lầm lẫn biết bao. Như vậy bà đã không làm thiệt hại cho người con biết mấy ư ? và bà đã tự làm cho mình mất một sự yên ủi dường nào. Bà đã làm cho thế hệ của bà và mọi thế hệ sau này mất đi một kho tàng phong phú biết bao.

... Sự từ chối mà bạn phải chịu bây giờ chỉ là sự trì hoãn Thiên Chúa dùng để hun đúc thêm lòng sốt sắng của bạn.

(JB. Saint-Jure,S.J., Tin cậy Chúa quan phòng. tr.97)

------

Chúng ta đang sống trong một xã hội, một thế giới "mì ăn liền", kĩ thuật sáng chế cho mọi cái "instant", mau lẹ, gấp rút...vào internet mà đường chuyền lờ rờ như rùa thì phải đổi ngay để up grade, bỏ internet xài chung với giây điện thoại, mua modem, bỏ modem nối qua cable, không biết sẽ còn gì nhanh hơn nữa.

Điều đó ảnh huởng tới tâm lí, làm ta sốt ruột khi phải chờ đợi, kiên nhẫn đối với bản thân, gia đình xã hội, và cả tôn giáo nữa. Nếu có ai sáng chế ra một cái hộp, chỉ cần bỏ tiền cắc vào, tự động sẽ nhả ra điều ước nguyện như ỳ, kiểu máy bán nước ngọt thì hay biết mấy. Nhưng thực tế có không?

Ai biết được ý của Trời cao? là Đấng phán qua tiên tri Isaia: "Tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi, và đường lối của các ngươi không phải là đường lối của Ta. Trời cao hơn đất bao nhiêu, thì đường lối của Ta cũng cao hơn đường lối các ngươi, và tư tưởng của Ta cũng cao hơn tư tưởng các ngươi bấy nhiêu." (Is 55,8-9).

Nhiều người cầu xin, Ngài ban cho ngay, nhưng nhiều người xin hoài cũng không được! Nhiều khi còn bị Ngài từ chối, như Ngài đã từng từ chối Con Một Ngài trong vườn Giessimani.

Nhưng có một lời khuyên hay, của vị thánh nào đó:

Khi xin những ơn về phần hồn như xin ơn tin cậy kính mến Chúa..., thì cứ tin chắc rằng Thiên Chúa sẽ ban, nhưng những ơn về phần xác như mạnh khỏe, làm ăn, con cái...thì xin để tùy Ngài. Nếu Chúa muốn, nếu có lợi cho linh hồn con, xin Chúa ban cho con, bằng không thì tùy ý Chúa. Con không biết như Chúa.

Như vậy, dù được hay không, ta vẫn được bình an và đẹp lòng Thiên Chúa, Đấng biết mọi sự trong quá khứ, hiện tại và tương lai.

Có một chuyện coi như "khờ khờ", nhưng có thực khờ không?

"Xưa có một người mù, anh ta sống đạo rất tốt lành. Khi nào cầu nguyện, anh cũng kết thúc bằng lời: Nếu điều đó có lợi cho phần rỗi con...

Một hôm người ta dẫn anh tới mồ thánh Tôma Cantobery để xin Người chữa anh khỏi mù.

Sau khi cầu nguyện, mắt anh được sáng. Anh thấy được cảnh vật, người người đi lại...

Nhưng khi về tới nhà, anh buồn, vì anh đã quên câu kết trong lời cầu nguyện.

Anh trở lại mồ thánh Tôma. Anh cầu nguyện:

- Con xin lỗi, lần trước cầu nguyện cùng Ngài, con đã quên thưa: "Nếu điều này có lợi cho con...xin ban cho con". Vậy hôm nay đến đây, con cầu nguyện lại: Nếu điều này có lợi cho linh hồn con, xin Ngài mở mắt cho con, còn không, con xin theo Ý Chúa.

Cầu nguyện vừa xong, anh bị mù lại (ngu quá). Nhưng câu chuyện kết: Tâm hồn anh được tràn ngập bình an.

Bình an dẫn đến hạnh phúc. Bình an là lời hát của các thiên thần khi Chúa giáng sinh làm người. Bình an dưới thế cho người thiện tâm hay người Chúa thương.
Read more…

“Xin dạy chúng con đếm tháng ngày mình sống…” (TV 90)

9:18 PM |
Năm cũ trôi qua. Ngày đầu năm là thời gian khởi đầu một năm mới. Năm cũ kết thúc để lại dấu ấn 12 tháng đã trôi qua. Thời gian là một vòng tròn, tuần hoàn đều đặn trong đó, 60 phút trong một giờ, 24 giờ trong một ngày, 7 ngày trong một tuần... cứ lặp đi lặp lại. Nhưng thời gian là một đường thẳng gồm những sự kiện, phút, giờ, ngày, tháng, năm riêng biệt, mỗi đơn vị trôi qua trong một chuỗi nối tiếp nhau không bao giờ kết thúc. Thời gian đang xoay vần từ những ngày đông chí đến lập xuân, để bắt đầu một mùa xuân mới. Rõ ràng là thời gian đang qua đi, và thời gian không bao giờ trở lại. Thời gian luôn luôn mới, và thời gian không thể luân hồi.
Nếu không gian là môi trường chứa đựng vạn vật thì thời gian là môi trường chứa đựng sự thay đổi của muôn loài. Một đóa hoa từ lúc nở đến lúc úa tàn cần một khoảng thời gian nào đó tùy loại.Một đời người từ lúc sinh ra cho đến lúc qua đời cũng cần một khoảng thời gian nào đó. Như vậy sự thay đổi của vạn vật trôi trên dòng thời gian lịch sử.
Thời gian là chiều kích tự nhiên của đời người và người đời.Thời gian gắn liền với thân phận mỗi người. Sống trong thời gian là có một khởi đầu và sẽ có một kết thúc.
Thánh Vịnh 90 nói đến cái mau qua của thời gian:
"Ngàn năm Chúa kể là gì,
tựa hôm qua đã qua đi mất rồi,
khác nào một trống canh thôi!" (câu 4)
"Đời chúng con tàn tạ, kiếp sống thoảng qua, một tiếng thở dài.
Tính tuổi thọ, trong ngoài bảy chục,mạnh giỏi chăng là được tám mươi,mà phần lớn chỉ là gian lao khốn khó, cuộc đời thấm thoát, chúng con đã khuất rồi." (câu 9-10).
Quả thật, những nhăn nheo của làn da, những vết chân chim ở đuôi mắt, già nua của tuổi tác, bệnh tật của thân xác... là "dấu tàn phá của thời gian".
Nhìn thực tế chóng qua của dòng thời gian,Thánh Vịnh 90 mời gọi con người hãy biết hướng về Thiên Chúa là chủ của thời gian để cầu xin với một niềm tin tưởng lạc quan: "Xin dạy chúng con đếm tháng ngày mình sống, ngõ hầu tâm trí được khôn ngoan." (câu 12). Mỗi sớm mai thức dậy cần nguyện xin: "Từ buổi mai, xin cho đoàn con được no say tình Chúa, để ngày ngày được hớn hở vui ca." (câu 14).
Thời gian năm tháng năm cũ trôi qua và đi vào qúa khứ. Nhưng cuộc sống con người không vô tình xuôi chảy như dòng nước. Bởi lẽ, con người sống trong thời gian là để yêu thương nhau.
Người ta vẫn thường nói thời giờ là tiền bạc. Đúng hơn, thời gian là tình yêu. Đơn giản là vì một trong những điều tốt nhất con người có thể dành cho nhau, đó là thời gian.
Thời gian thật quí. Thời gian là hồng ân. Sống trong thời gian là yêu để sống. Ai đang yêu là người đang sống trong thời gian.
Báo Tuổi trẻ Chúa nhật số 44/2000 có đăng câu chuyện thật ý nghĩa về tình yêu và thời gian.
Ngày xưa các vị Thần Hạnh Phúc,Khổ Đau,Tình Yêu,Giàu Sang và nhiều vị khác nữa cùng sống chung với nhau trên một hoang đảo.Một hôm cơn đại hồng thuỷ tràn đến, hòn đảo xinh xắn sắp chìm trong biển nước.Tất cả các vị Thần đều chuẩn bị thuyền để vượt biển vào đất liền lánh nạn.Riêng Thần Tình Yêu vì quá nghèo nên không có nổi một chiếc thuyền để ra đi.Thần đành ngồi im lặng đợi chờ đến giây phút cuối cùng mới quyết định quá giang các vị Thần khác.
Khi Thần Giáu Sang đi ngang qua,Thần Tình Yêu xin : Anh mang tôi đi cùng với.
Không được đâu, tôi có biết bao vàng bạc quý giá phải mang theo sao còn chỗ cho bạn.
Thần Đau Khổ đến gần. Thần Tình Yêu nài nỉ: Anh cho tôi đi với nhé.
Tôi bất hạnh và buồn chán quá,tôi chỉ muốn ở một mình thôi.
Thần Hạnh Phúc đi ngang qua cũng thế. Thần quá hạnh phúc cho đến nỗi không nghe được tiếng kêu cứu của Thần Tình Yêu.
Bỗng nhiên có giọng nói của một cụ già : Này tình yêu, tôi sẽ đưa anh vào đất liền.
Thần Tình Yêu nghe thế liền chạy nhanh đến thuyền của cụ già.Quá vui mừng vì thoát nạn,Thần Tình Yêu quên hỏi tên cụ già tốt bụng.
Khi tất cả các vị thần đều đến được đất liền, cụ già lẳng lặng bỏ đi mất. Khi đó Thần Tình Yêu mới sực nhớ là đã quên cám ơn người đã giúp mình thoát nạn liền quay sang hỏi Thần Kiến Thức : Thưa ông, cụ già vừa giúp tôi khi nãy tên gì vậy?
Thần Kiến Thức đáp: Đó là Thần Thời Gian
Thần Thời Gian ư ? Nhưng vì sao ông ta lại giúp tôi ?
Thần Kiến Thức mỉm cười : Vì chỉ có thời gian mới có thể hiểu được tình yêu vĩ đại như thế nào.
Tình yêu và thời gian là hai phạm trù khác biệt nhưng lại có tương quan chặt chẽ.Thời gian nuôi dưỡng tình yêu. Thời gian đo lường tình yêu.Tình yêu lớn lên hay lụi tàn theo dòng chảy của thời gian.Sống trong thời gian là yêu để sống.Thời gian không có tình yêu sẽ cô đơn lạnh lùng buồn chán.Tình yêu ý nghĩa hoá và thắp hồn cho thời gian. Bởi đó, kẻ đang yêu là người sống trong thời gian với đầy ắp niềm vui êm ả. Kẻ biết yêu là người biết nhìn thời gian như dòng ngọc bạc.
Kinh Thánh định nghĩa : Thiên Chúa là Alpha và Omêga,là khởi nguyên và cùng tận (Is 44,6). Điều ấy có thể diễn tả cách khác : Thiên Chúa là thời gian.
Thánh Gioan xác định : "Thiên Chúa là tình yêu" (1Ga 4,8)
Thiên Chúa là thời gian và là tình yêu. Như thế tình yêu và thời gian song hành là một. Sống trong Thiên Chúa là sống để yêu và sống trong thời gian là yêu để sống. Kẻ sống trong Thiên Chúa là người biết quý chuộng thời gian.
Mỗi buổi sáng thức dậy, nhìn lên bầu trời trong xanh có ánh nắng ban mai ửng hồng, ngắm một chồi non vừa nhú còn ướt đẫm sương đêm... Mỗi một thực thể xinh đẹp ấy đều nhắc nhở cho ta biết là đời sống của ta đang tồn tại, và ta tự nhủ với mình sẽ không bỏ phí một phút giây nào được tồn tại trong cuộc sống nhiệm mầu này. Ta sẽ sống như thế nào để bản thân có được niềm vui hạnh phúc, và mang niềm vui, hạnh phúc đến cho mọi người quanh mình.
Thời gian quý giá vẫn liên tục trôi qua không dừng nghỉ. Hãy sống như thế nào để thời gian trở thành một dòng sông, một dòng suối mát cuộn tràn niềm vui và hạnh phúc đến với ta trong dòng chảy không ngừng của nó. Chỉ như thế chúng ta mới không bỏ phí đi giá trị của thời gian, và mới nhận ra được tình yêu đong đầy trong từng phút giây cuộc sống.
Con người sinh ra trần trụi và chết đi cũng không mang theo được gì. Tất cả những giá trị chân thật mà chúng ta có thể có được luôn nằm ngay trong cách mà chúng ta sử dụng thời gian của đời mình. Chúng ta còn được bao nhiêu thời gian trong cuộc sống? Đó là một câu hỏi không ai có thể trả lời được. Có thể là mười năm, hai mươi năm, có thể là một năm, có thể là vài ba tháng... nhưng cũng có thể chỉ là trong chốc lát nữa thôi. Thời gian cần phải được trân trọng trong từng khoảnh khắc. Khi ý thức được rằng giá trị của cuộc sống nằm ở chỗ là mình đang sống, chúng ta sẽ thấy tất cả những điều khác đều trở nên nhỏ nhặt, vụn vặt không đáng kể. Đời sống của ta quý giá, và đời sống của mọi người quanh ta cũng quý giá không thể lấy gì đánh đổi được.
Thánh Augustine từng nhận định rằng thời gian nếu xem như một hiện tượng chủ quan có thể rất khác so với thời gian nếu xem như một khái niệm trừu tượng. Nếu thời gian ở dạng trừu tượng, ta chẳng thể biết tương lai vì nó không ở đây, và cũng chẳng biết mặt mũi quá khứ là gì. Ta có thể có ký ức, có kỷ niệm, nhưng diễm xưa đã xa rồi còn đâu thấy nữa. Điều duy nhất hiện hữu là hiện tại, đó là con đường duy nhất về quá khứ và đến tương lai. Thánh Augustine viết: "Do đó, hiện tại có ba chiều: hiện tại của những chuyện quá khứ, hiện tại của những chuyện hiện tại và hiện tại của những chuyện tương lai".
Con người không làm chủ được thời gian. Quá khứ đã qua rồi. Tương lai chưa tới. Chỉ còn hiện tại. Hiện tại là thời gian quý nhất mà con người có trong tay.Sự giàu có của chúng ta là giây phút hiện tại. Sống giây phút hiện tại bằng yêu thương chính là hạnh phúc.Thời gian là một cái gì đó rất chậm đối với kẻ đang chờ, rất nhanh đối với người đang sợ, rất dài đối với kẻ đang buồn, rất ngắn đối với người đang vui. Nhưng đối với kẻ đang yêu thì thời gian hình như không hiện hữu.
Suy tư về thời gian, ĐGM Bùi Tuần viết: "Những ngày cuối năm thường vội vã. Những ngày đầu năm thường rộn ràng. Những vội vã và rộn ràng ấy thường gây nên nhiều cảm xúc. Tất cả đều mau qua. Nhưng đàng sau những gì mau qua ấy vẫn có một cái gì còn lại lâu dài. Sự còn lại đó là một hiện diện. Tôi nhận ra hiện diện đó chính là Chúa Giêsu.Chúa Giêsu hiện diện trong lịch sử và trong tôi một cách mầu nhiệm. Người gọi tôi hãy dấn thân vào lịch sử Năm Mới với cái nhìn của đức tin."(x. Cái mới của Năm Mới 2012).
Tình yêu cần thời gian để kiến tạo hạnh phúc. Như thế sống là để yêu và yêu là để sống. Tình yêu cho cuộc sống màu xanh. Thời gian luôn đong đầy hạnh phúc. Vì thế phải yêu cho thật tình đừng dối gian nhau. Yêu cho thật nhiều không hề toan tính. Chúa Giêsu đã tha thiết kêu mời: Hãy yêu nhau "Như Thầy đã yêu anh em" (Ga 15,12).Chúa đã yêu bằng hành động cụ thể là hy sinh cho người mình yêu. Khi yêu nhau, người ta có thể hy sinh cho nhau thời giờ, tiền bạc, sức khỏe, công việc...Hy sinh cao cả nhất là hy sinh mạng sống "Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình". Chúa đã thực thi sự hy sinh cao độ ấy " Đức Kitô đã chết vì chúng ta" ( Rm 5,6; Ep 5,2; 1Ga 3,16), để chúng ta yêu thương "Nếu Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta như thế thì chúng ta phải thương yêu nhau" (1 Ga 4,19), nhờ đó mà "niềm vui được nên trọn vẹn" (Ga 15,9). Tình yêu thật vĩ đại cho những ai sống theo gương Chúa Giêsu trong hành trình cuộc đời mình.
Chúng ta cũng sẽ không phung phí thời gian để mơ mộng về tương lai hay nuối tiếc quá khứ. Từng giây phút ta đang sống trong bầu không khí trong lành quanh ta đều quý giá. Từng con người mà ta có may mắn được tiếp xúc cũng đều quý giá. "Thời gian là một cái gì đó rất chậm đối với kẻ đang chờ, rất nhanh đối với người đang sợ, rất dài đối với kẻ đang buồn, rất ngắn đối với người đang vui. Nhưng đối với kẻ đang yêu thì thời gian hình như không hiện hữu."
Thời gian là Tình yêu. Sử dụng thời gian quý giá mà Thiên Chúa ban cho mỗi người.
Dùng thời gian để suy nghĩ, đó là nguồn sức mạnh.
Dùng thời gian để đọc, đó là nền tảng sự khôn ngoan.
Dùng thời gian để tìm hiểu, đó là cơ hội để giúp người khác.
Dùng thời gian để cười, đó là âm nhạc của tâm hồn.
Dùng thời gian để ước mơ, đó là kiến tạo những gì thuộc về tương lai.
Dùng thời gian để thinh lặng, đó là cơ hội để gặp Chúa.
Dùng thời gian để yêu và được yêu, đó là món quà vĩ đại nhất của Thiên Chúa.
Dùng thời gian để cầu nguyện, đó là sức mạnh vĩ đại nhất trên trái đất này.
Lạy Chúa,
"Xin dạy chúng con đếm tháng ngày mình sống, ngõ hầu tâm trí được khôn ngoan.".
Mỗi một ngày mới, xin cho chúng con luôn biết sống tâm tình:
"Từ buổi mai, xin cho đoàn con được no say tình Chúa, để ngày ngày được hớn hở vui ca.". Amen.
Lm Giuse Nguyễn Hữu An
(Người đăng có sửa lại 2 câu đầu cho hợp với hôm nay)
Read more…

Đức Thánh Cha bổ nhiệm Giám mục Phụ tá cho Giáo phận Vinh và Hưng Hóa

7:12 PM |
Đức Thánh Cha bổ nhiệm Giám mục Phụ tá cho Giáo phận Vinh và Hưng Hóa
15.06.2013

Tân Giám mục Phụ tá GP Vinh Phêrô Nguyễn Văn Viên
GPVO - Ngày 15-6-2013, Văn phòng báo chí Tòa Thánh loan tin Đức Thánh Cha Phanxicô đã bổ nhiệm các Giám mục Phụ tá cho 2 giáo phận Vinh và Hưng Hóa. Linh mục Phêrô Nguyễn Văn Viên, Tổng Đại diện Giáo phận Vinh, được bổ nhiệm làm Giám mục phụ tá giáo phận này với hiệu tòa Megalopoli di Proconsolare; và linh mục Alphongsô Nguyễn Hữu Long, thuộc tu đoàn Xuân Bích, Giám đốc Đại Chủng viện Huế, được bổ nhiệm làm Giám mục Phụ tá Giáo phận Hưng Hóa, hiệu tòa Gummi di Bizacena.

Chúng ta cùng hiệp ý dâng lời tạ ơn Thiên Chúa về những hồng ân mà Ngài vừa ban cho Giáo Hội Việt Nam, cách riêng cho hai giáo phận Vinh và Hưng Hóa.

Đức tân Giám mục Phêrô Nguyễn Văn Viên sinh ngày 08-01-1965 tại giáo xứ Hướng Phương, Quảng Trạch, Quảng Bình, Giáo phận Vinh.
Từ 1987- 1992: Theo học tại Đại học Nông lâm - Huế, tốt nghiệp Cử nhân Khoa học Kinh tế.
Ngày 14-10-1993: Vào Đại Chủng viện Vinh Thanh.
Ngày 3-10-1999: Thụ phong linh mục.
Từ 2000-2009: Tu nghiệp tại Học viện Công giáo Sydney (Australia), tốt nghiệp với học vị Tiến sĩ Thần học Tín lý. Trong thời gian du học, ngài cũng làm việc mục vụ cho cộng đoàn Việt Nam tại đây.
Từ 2009: Được bổ nhiệm làm Phó Giám đốc kiêm Giáo sư Tín lý tại Đại Chủng viện Vinh Thanh.
Ngày 20-11-2010: Được bổ nhiệm làm Tổng Đại diện Giáo phận Vinh.
Đức tân Giám mục Alphongsô Nguyễn Hữu Long sinh ngày 25-01-1953, theo học tại Tiểu Chủng viện thánh Gioan tại Đà Nẵng từ năm 1965 đến 1972 và Đại chủng viện Hòa Bình cũng tại giáo phận này từ năm 1972 đến 1978. Thầy Long thụ phong linh mục ngày 29-12-1990 thuộc giáo phận Đà Nẵng và gia nhập Tu đoàn Xuân Bích.

Sau khi thụ phong linh mục, Cha Alphongsô Long đảm nhận các công việc sau đây:
Từ 1990-1994: Phó xứ Tam Kỳ, Đà Nẵng.
Từ 1994-1998: Theo học và tốt nghiệp Cử nhân Giáo luật tại Học viện Công giáo Paris, Pháp.
Từ 1999-2001: Cha sở giáo xứ Hà Lam, Giáo phận Đà Nẵng
Từ 2001-2003: Cha sở Trà Kiệu, Giáo phận Đà Nẵng
Từ 2003-2011: Linh hướng và Giáo sư Giáo luật, Giáo sử và Huấn giáo tại Đại Chủng viện Huế.
Từ 2011: Giám đốc Đại Chủng viện Huế.


GPVO

Read more…

Tu sĩ Dòng Tên người Myanmar đầu tiên được phong chức linh mục

7:15 PM |
Tu sĩ Dòng Tên người Myanmar đầu tiên được phong chức linh mục
13.06.2013
Thầy Wilbert Mireh, SJ, đã được phong chức linh mục tại Nhà thờ Chính toà Loikaw ở Myanmar tháng 5 vừa qua. Với việc phong chức này, ngài trở thành tu sĩ Dòng Tên Myanmar đầu tiên được phong chức linh mục kể từ khi Dòng Tên được thành lập cách đây 473 năm.
Có 20 linh mục Dòng Tên hiện diện trong Thánh lễ cùng với Cha Wardi Saputra là giám tập của Cha Mireh. “Cách đây khá lâu, Đức cha Matthias U. Shwe, Giám mục Giáo phận Taunggyi, hỏi tôi: ‘Khi nào thì chúng ta sẽ có một tu sĩ Dòng Tên được phong chức linh mục ở Myanmar?’”, Cha Saputra, người từ Indonesia đến Myanmar năm 1998 để thiết lập một nhà tập, nhớ lại.

Đối với Cha Mireh, lễ phong chức là một khoảnh khắc ân sủng, qua đó ngài đã cảm nhận được phúc lành của Thiên Chúa ban trên cuộc đời của ngài. Trong khi ý thức được những trách nhiệm mà ngài sẽ gánh vác khi trở thành linh mục Dòng Tên đầu tiên của nước Myanmar, Cha Mireh nói rằng ngài cảm nhận được sự nâng đỡ lớn lao đến từ nhiều người xung quanh ngài.

“Thật là một đặc ân và tôi cảm thấy mình rất sẵn sàng để bắt đầu sứ vụ của mình. Tôi đã ao ước làm điều này từ rất lâu rồi. Trong tư cách là một tu sĩ Dòng Tên, tôi thấy mình đang tràn đầy tinh thần truyền giáo”, tân linh mục nói.

Mặc dù các tu sĩ Dòng Tên Bồ Đào Nha đã mang đạo Công giáo đến Vương quốc Pegu từ những năm đầu của thế kỷ 17 và Tỉnh Dòng Tên Maryland của Hoa Kỳ đã làm việc ở Myanmar (còn gọi là Burma) từ thập niên 50 và 60 của thế kỷ 20, nhưng tình hình chính trị phức tạp đã cản trở sự phát triển của Dòng Tên tại đây. Kể từ khi các tu sĩ Dòng Tên trở lại phục vụ Myanmar từ năm 1998, họ đã cộng tác với Giáo hội Myanmar trong việc huấn luyện các tu sĩ trẻ và mang đến nhiều chương trình giáo dục cho những người bị tổn thương sau nhiều năm sống dưới chế độ nhà nước quân sự.

Lễ phong chức mang tính lịch sử này cũng là một dấu mốc quan trọng đối với những ân nhân khắp thế giới vốn là những người đang hỗ trợ cho sứ mạng truyền giáo của Dòng Tên tại Myanmar. Ngoài ra, theo Cha Irsan Rimawal, SJ, đương kim giám tập Dòng Tên tại Myanmar, việc có thêm một linh mục Dòng Tên người địa phương cho Giáo hội Myanmar sẽ mang đến nhiều ích lợi cho anh chị em tín hữu.

 “Trước hết, là người địa phương họ sẽ hiểu nền văn hoá và tình trạng đất nước của họ hơn là các Giêsu hữu ngoại quốc. Hơn nữa, tôi nghĩ rằng việc có một linh mục Dòng Tên người địa phương sẽ tạo cơ hội lớn cho Dòng Tên tham dự và cộng tác với đời sống của Giáo Hội Myanmar”, Cha Rimawal nói.

Cha Mireh sẽ bắt đầu việc mục vụ của ngài ở Giáo phận Loikaw, nơi ngài đã lớn lên và được huấn luyện về đức tin, trong khi các anh em Giêsu hữu của ngài đến từ Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Hàn Quốc và Úc sẽ tiếp tục công việc xây dựng và phát triển sứ mạng truyền giáo còn non trẻ của Dòng Tên tại Myanmar.




Tân linh mục Mireh, mẹ và anh trai


Chỉnh Trần, S.J.chuyển ngữ

(Nguồn: dongten.net)
Read more…

Kiếp sống mới, Thiên Đường mới

10:13 PM |
Trong nháy mắt, đời sống hiện tại sẽ chuyển sang một Kiếp Sống Mới, một Thiên Đường Mới... 

Các con yêu dấu của Cha, rất nhiều người trên thế giới không nhận thức được phần tâm linh của họ. Họ đã quá chạy đua để nắm bắt các vấn đề liên quan đến cuộc sống hằng ngày của họ, công việc của họ, vai trò làm cha mẹ của họ, sự tranh đấu của họ để vượt qua những kỳ thi và tự rèn luyện bản thân, đến nỗi họ quên mất cuộc sống sau khi thời gian của họ trên trái đất kết thúc.

Điều này chỉ đúng về mặt trách nhiệm, khi họ làm việc tốt nhất có thể,  để có cái ăn cái mặc cho chính họ, nhưng khi họ bỏ bê việc nuôi dưỡng tâm linh, họ đang từ chối những món quà tuyệt vời nhất đang chờ đợi họ.

Nhiều người quyên rằng Cha Ta có thể cất đi sự sống của họ bất cứ lúc nào. Nếu những linh hồn không được chuẩn bị, họ sẽ đau đớn tiếc nuối và có thể họ sẽ không được vào Thiên Đàng khi họ lìa trần để bước sang đời sống mới.

Những người có cuộc sống bận rộn, gặp khó khăn khi cân nhắc những gì đang xảy ra trong thời gian này, khi thời gian Thiên Chúa sắp đặt cho họ, đã đến hồi kết. Đối với nhiều người, họ xem cái chết là một cái gì đó đáng sợ và họ không muốn nghĩ về nó. Và như vậy, họ từ chối Cha, Chúa Giê-su của họ, con đường duy nhất đưa họ vào Vương Quốc của Cha Ta. Cha, Chúa Giê-su, là con đường duy nhất dẫn các con đến với cuộc sống đời đời, một cuộc sống mà các con không biết đến.

Cha muốn nói cho các con biết rằng, có một cuộc sống tuyệt vời dành cho tất cả các con cái Thiên Chúa đang chờ đợi họ. Cuộc sống này quan trọng, vì cách các con sống trong cuộc đời được ban cho các con trên trái đất này, sẽ quyết định tương lai của các con.

Các con đừng bao giờ nghĩ chết là hết. Thay vào đó, hãy nghĩ rằng đó là một sự khởi đầu của một cuộc sống mới tuyệt vời. Thời gian các con trải qua trên trái đất chỉ là thời gian thử thách. Nó chỉ là một cuộc thử nghiệm và xét về nhiều mặt thì nó là một cuộc sống lưu vong. Sinh ra là tội nhân, các con cũng sẽ chết như những tội nhân. Tuy nhiên, những tội nhân yêu thương nhau, đối xử với nhau bằng tình yêu và sự tôn trọng và sống cuộc sống của họ theo Hình Ảnh Cha, họ có nhiều điều để mong đợi.

Vì lòng nhân hậu lớn lao của Cha đối với tất cả con cái Thiên Chúa, Cha có những biệt lệ lớn lao cho những linh hồn đi lang thang, hư mất và lầm lẫn. Cha đuổi theo những linh hồn không muốn làm bất cứ điều gì liên quan đến Cha, và Cha sẽ khuấy động tâm hồn họ, để họ cảm thông đối với những người khác. 

Nhiều người không nhận ra Cha đang làm gì trong tâm hồn họ, nhưng Cha làm điều này là để lôi kéo họ về phía Cha. Đối với những linh hồn kêu cầu Cha, cho dù họ không biết chắc chắn Cha có Hiện Hữu hay không, ngay lập lập tức Cha sẽ chạy đến, đáp lời và lắng nghe tất cả những ý nguyện của họ. Cha là Thiên Chúa của Tình Yêu. Cha là người chậm bất bình. Cha là người kiên nhẫn. Cha là người luôn chờ đợi. Cha là người trung kiên. Cha là tất cả Lòng Xót Thương. Cha đang chờ đợi tất cả các linh hồn nhận ra Lời Mời gọi của Cha, vì họ sẽ sớm do dự khi họ nghe Giọng Nói của Ai Đó, mời gọi họ để cảm nhận Tình yêu của Thiên Chúa.

Trong nháy mắt, đời sống hiện tại sẽ chuyển sang một Kiếp Sống Mới, nơi một Thiên Đường Mới đã được Canh Tân. Trong khi thời gian này trên trái đất có lẽ đã đủ những thử thách, áp lực, căng thẳng, và thăng trầm, nó không thể so sánh với cuộc sống bình an và vinh quang đang chờ đợi tất cả những người yêu mến Cha.

Chúa Giê-su của các con. 
Gioakim chuyển dịch từ nguồn thewarningsecondcoming.com
Read more…

Buổi tiếp kiến chung cuối cùng của Đức Bênêđictô XVI trong triều đại Giáo hoàng của ngài

9:13 PM |

Buổi tiếp kiến chung cuối cùng của Đức Bênêđictô XVI trong triều đại Giáo hoàng của ngài

"Con thuyền Giáo Hội không phải của tôi, không phải của chúng ta, nhưng là của Chúa, và Người không để cho nó chìm. Chính Chúa điều khiển nó, chắc chắn cả qua những người mà Người đã chọn, bởi vì Người đã muốn như thế. Thiên Chúa hướng dẫn Giáo Hội, Người luôn nâng đỡ Giáo Hội nhất là trong những lúc khó khăn. Người luôn ở gần chúng ta, Người không bỏ rơi chúng ta, Người ở gần chúng ta và bao bọc chúng ta với tình yêu của Người. Chúng ta đừng bao giờ mất đi quan niệm đức tin này, là quan niệm duy nhất đích thực của con đường của Giáo Hội và của thế giới."
Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã nói như trên với 170.000 tín hữu và du khách hành hương năm châu tham dự buổi tiếp kiến chung cuối cùng của ngài tại quảng trường thánh Phêrô sáng thứ tư 27-2-2013. Thật thế, buổi tiếp kiến này là buổi gặp gỡ cuối cùng với Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI trong triều đại của ngài, vì vào lúc 20 giờ tối thứ năm 28-2-2013 giờ Roma, Đức Thánh Cha kết thúc nhiệm vụ Giáo hoàng. Tông Tòa sẽ trống ngôi, và trong vài ngày nữa, có thể là thứ hai tuần tới đây, Đức Hồng y Nhiếp chính sẽ chủ sự buổi họp của Hồng y đoàn để quyết định ngày khai mạc Mật nghị Hồng y bầu Giáo hoàng mới.

Đáng lý ra trong mùa này buổi tiếp kiến sáng thứ tư diễn ra trong đại thính đường Phaolô VI, nhưng để nhiều tín hữu có thể tham dự buổi gặp gỡ vị Cha chung lần cuối cùng, buổi tiếp kiến đã được tổ chức tại quảng trường thánh Phêrô. Trời Roma trong xanh có nắng ấm rất đẹp, như thể mùa xuân đã bắt đầu. Ngay từ 5 giờ sáng, hàng trăm xe buýt chở các đoàn hành hương từ các giáo phận Italia hay từ các nước khác đã đổ tín hữu xuống quanh quảng trường thánh Phêrô, để mọi người xếp hàng đi qua các trạm kiểm soát điện tử vào quảng trường. Phủ giáo hoàng đã phân phát 50.000 vé, nhưng số tín hữu tham dự đã lên tới 170.000, đặc biệt có rất đông sinh viên học sinh và các bạn trẻ. Các Đại học Giáo hoàng Roma đều cho sinh viên nghỉ để có thể tham dự buổi tiếp kiến của Đức Thánh Cha, và cùng với tín hữu khắp nơi bày tỏ lòng yêu mến, tình liên đới, sự gắn bó gần gũi và biết ơn ngài, vì những gì Đức Thánh Cha đã cống hiến cho Giáo Hội và cho toàn thế giới trong những năm qua.




Nhiều đoàn tìn hữu mặc áo mầu đồng phục hay có mũ, khăn và cờ để dễ nhận ra nhau. Các đoàn tín hữu đã mang theo rất nhiều cờ, cờ Tòa Thánh cũng như cờ quốc gia, và nhiều biểu ngữ viết tên thành phố của họ và các câu như: "Cám ơn Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI", "Ngài luôn luôn là Phêrô và giới trẻ chúng con yêu mến ngài", "Thưa Đức Thánh Cha, chúng con yêu mến ngài", "Chúng con gần gũi ngài", "Luôn luôn với Đức Giáo Hoàng", "Cám ơn Đức Thánh Cha nhiều lắm", v.v..

Sau khi bắt đầu triều đại Giáo hoàng của mình, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã có buổi tiếp kiến chung lần đầu tiên ngày 27-4-2005. Trong gần 8 năm làm Giáo Hoàng, ngài đã có 348 buổi tiếp kiến chung với 5.116.600 tín hữu tham dự. Số tín hữu tham dự đông nhất là vào năm 2006 với 45 buổi tiếp kiến và 1.031.500 người. Trong năm đầu đã có 32 buổi tiếp kiến với 810.000 người tham dự. Các năm khác đã có từ 42 tới tới 45 buổi tiếp kiến với con số tham dự xê dịch từ 447.000 tới 729.000 người.




Riêng cho buổi tiếp kiến lịch sử sáng thứ tư 27-2-2013, ban kỹ thuật Tòa Thánh đã dựng thêm 4 màn truyền hình khổng lồ khác để cho các tín hữu đứng ở đường Hòa Giải cũng có thể theo dõi. Hiên diện trong buổi tiếp kiến cuồi cùng sáng 27-2, ngoài khoảng 70 Hồng y, hàng chục Tổng Giám mục, Giám mục, các Đức ông thuộc các cơ quan trung ương Tòa Thánh, hàng ngàn linh mục, tu sĩ nam nữ các dòng tu và các trường quốc tế, ngoại giao đoàn cạnh Tòa Thánh, còn có Đại quận công thừa kế Guillaume nước Luxembourg, Tổng thống Slovac Ivan Gasparovic và phái đoàn, ông Horst Seehofer, Thống đốc bang Bavière Nam Đức và phái đoàn, ông Renato Balduzzi Bộ trưởng Y tế Italia, ông Jorge Fernandez Diaz, Bộ trưởng Nội vụ Tây Ban Nha, chị Maria Voce, lãnh đạo phong trào Tổ Ấm, anh Kiko Argello, lãnh đạo phong trào Con đường Tân dự tòng, thầy Alois Đan viên trưởng Đan viện đại kết Taizé, v.v..

Đã có hàng chục đoàn hành hương giáo phận Italia do chính các Tổng Giám mục và Giám mục hướng dẫn. Trong các phái đoàn hiện diện cũng có một nhóm tín hữu Việt Nam từ Đức.

Trong buổi tiếp kiến hôm qua đã không có nghi thức hôn tay Đức Giáo Hoàng như thường lệ. Nhưng sau đó tại phòng Clemente, một số nhân vật quan trọng có thể đến chào Đức Thánh Cha và hôn tay ngài.

Trong suốt mấy tiếng đồng hồ chờ đợi Đức Thánh Cha, các sinh viên học sinh và bạn trẻ đã liên tục gọi tên Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI, hát xướng và vỗ tay, trong bầu khí của lễ hội, giống như trong các Ngày Quốc tế Giới trẻ. Lúc 10 giờ, các Đức ông thuộc Phủ Quốc vụ khanh Tòa Thánh đã chào tín hữu và giới thiệu các nhóm tham dự. Khi nghe xướng tên nhóm mình tín hữu, đặc biệt là các bạn trẻ, đã hô to lên.






Lúc 10 giờ 40, xe zíp trắng chở Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI xuất hiện từ phía trái Đền thờ thánh Phêrô giữa tiếng vỗ tay của tín hữu, những tràng pháo tay xem ra e dè hơn và đượm một nỗi buồn nào đó. Xe chở Đức Thánh Cha đi một vòng giữa các lối đi ở quảng trường để ngài chào tín hữu, trước khi lên khán đài chính giữa thềm đền thờ thánh Phêrô.

Sau khi Đức Thánh Cha làm dấu thánh giá khai mạc buổi tiếp kiến, các Đức ông thuộc Phủ Quốc vụ khanh Tòa Thánh đã đọc bài Sách Thánh trích từ chương 1 thư thánh Phaolô gửi tín hữu Côlôxê, bằng nhiều thứ tiếng khác nhau.

Mở đầu bài huấn dụ, Đức Thánh Cha cám ơn tín hữu đã đến đông đảo như vậy để tham dự buổi tiếp kiến cuối cùng trong triều đại giáo hoàng của ngài. Đức Thánh Cha nói: "Như tông đồ Phaolô trong văn bản Kinh Thánh chúng ta vừa nghe, tôi cũng cảm thấy trong tim tôi nhất là phải cám ơn Thiên Chúa, là Đấng dẫn dắt và làm cho Giáo Hội lớn lên, là Đấng gieo vãi Lời Người và như thế dưỡng nuôi đức tin Dân Người. Trong lúc này đây tâm hồn tôi nới rộng ra để ôm trong vòng tay toàn thể Giáo Hội rải rác trên thế giới; và tôi cảm tạ Thiên Chúa vì các "tin tức", mà trong các năm này của sứ vụ Phêrô tôi đã có thể nhận được liên quan tới niềm tin nơi Chúa Giêsu Kitô, và về tình bác ái luân lưu trong Thân Mình của Giáo Hội và khiến cho nó sống trong tình yêu và niềm hy vọng, rộng mở chúng ta và hướng chúng ta tới cuộc sống tràn đầy, tới quê hương trên trời. Tôi cảm thấy mình mang tất cả mọi người trong lời cầu nguyện, trong một hiện tại là hiện tại của Thiên Chúa, nơi tôi tiếp nhận mọi cuộc gặp gỡ, mọi chuyến du hành và mọi cuộc viếng thăm mục vụ. Tất cả và mọi người tôi đều đón nhận trong lời cầu nguyện để tín thác cho Chúa: để chúng ta am tường thánh ý Người, với tất cả sự khôn ngoan và hiểu biết tinh thần, và để chúng ta có thể có cung cách hành xử xứng đáng với Người, với tình yêu thương của Người, bằng cách mang lại hoa trái trong mọi việc lành (Cl 1,9-10).

Tiếp tục bài huấn dụ, Đức Thánh Cha nói: "Trong lúc này đây, trong tôi có một sự tin tưởng lớn lao, bởi vì tôi biết chúng ta tất cả đều biết rằng Lời chân lý của Tin Mừng là sức mạnh của Giáo Hội, là sự sống của Giáo Hội. Tin Mừng thanh tẩy và canh tân, đem lại hoa trái, bất cứ nơi đâu cộng đoàn tín hữu biết lắng nghe và tiếp nhận ơn thánh Chúa trong chân lý và sống trong tình bác ái. Đó là sự tin tưởng của tôi, đó là niềm vui của tôi. Ngày 19-4 cách đây gần 8 năm, khi tôi đã chấp thuận lãnh nhận sứ vụ Phêrô, tôi đã có sự chắc chắn này và nó đã luôn đồng hành với tôi. Trong lúc này đây, cũng như tôi đã nói lên nhiều lần, những lời đã vang lên trong tim tôi: Lạy Chúa, Chúa xin con điều gì? Đây là một gánh nặng lớn mà Chúa đặt lên vai con, nhưng nếu Chúa xin con, thì dựa trên lời Chúa con sẽ thả lưới, chắc chắn rằng Chúa sẽ hướng dẫn con. Và Chúa đã thực sự hướng dẫn tôi, gần gũi tôi, tôi đã có thể nhận thấy hằng ngày sự hiện diện của Người."

Nhìn lại gần 8 năm triều đại Giáo hoàng của ngài, Đức Thánh Cha nói: "Đó đã là một đoạn đường của Giáo Hội, có những lúc vui, có ánh sáng, nhưng cũng có những lúc không dễ dàng. Tôi đã cảm thấy như thánh Phêrô với các Tông đồ trong con thuyền trên hồ Galilea: Chúa đã cho chúng ta biết bao nhiêu ngày có mặt trời và gió mát hiu hiu, những ngày trong đó đã đánh được đầy cá; nhưng cũng có những lúc trong đó biển động và gió ngược, như trong suốt lịch sử của Giáo Hội và xem ra Chúa ngủ. Nhưng tôi đã luôn luôn biết rằng trong con thuyền ấy có Chúa và tôi đã luôn luôn biết rằng con thuyền Giáo Hội không phải của tôi, không phải của chúng ta, nhưng là của Chúa, và Người không để cho nó chìm; chính Chúa điều khiển nó, chắc chắn qua cả những người mà Người đã chọn, bởi vì Người đã muốn như thế. Đây đã và hiện là một sự chắc chắn, mà không gì có thể làm lu mờ. Và chính vì thế mà hôm nay tim tôi tràn đầy sự cảm tạ Thiên Chúa, bởi vì Người đã không bao giờ để cho Giáo Hội, và cho cả tôi nữa, phải thiếu sự ủi an, ánh sáng và tình yêu của Người."

Đề cập tới Năm Đức Tin đang tiến hành, Đức Thánh Cha nói: "Chúng ta đang ở trong Năm Đức Tin mà tôi đã muốn để củng cố đức tin của chúng ta nơi Thiên Chúa, trong một bối cảnh xem ra ngày càng đặt để lòng tin vào hàng thứ yếu. Tôi muốn mời gọi từng người cảm thấy được yêu thương bởi Thiên Chúa, là Đấng đã ban Con Người cho chúng ta và đã cho chúng ta thấy tình yêu vô biên của Người. Tôi muốn từng người cảm thấy niềm vui được là Kitô hữu. Có một lời cầu đẹp cần đọc mỗi sáng nói rằng: "Lạy Thiên Chúa của con, con thờ lạy Chúa, và con yêu mến Chúa với tất cả trái tim con. Con cảm tạ Chúa đã tạo dựng nên con, đã cho con là tín hữu Kitô...". Vâng, chúng ta hài lòng vì ơn đức tin; đó là thiện ích lớn lao nhất, mà không ai có thể lấy mất! Chúng ta cảm tạ Chúa về ơn đó mỗi ngày, với lời cầu nguyện và với một cuộc sống Kitô trung thực. Thiên Chúa yêu thương chúng ta, nhưng cũng chờ đợi chúng ta yêu thương Người!"

Tiếp đến Đức Thánh Cha cám ơn các cộng sự viên và mọi thành phần dân Chúa và ngài nói: "Nhưng trong lúc này tôi không chỉ muốn cảm tạ Thiên Chúa mà thôi. Một Giáo hoàng không một mình hướng dẫn con thuyền của Phêrô, cả khi trách nhiệm đầu tiên là của người; và tôi đã không bao giờ cảm thấy cô đơn trong việc mang niềm vui và gánh nặng của sứ vụ Phêrô. Chúa đã đặt bên canh tôi biết bao nhiêu người đã giúp đỡ và gần gũi tôi, với sự quảng đại và tình yêu thương đối với Thiên Chúa và Giáo Hội. Trước hết là anh em, các Hồng y thân mến: sự khôn ngoan, các lời khuyên và tình bạn của anh em đã rất qúy báu đối với tôi; các cộng sự viện của tôi, bắt đầu là Quốc vụ khanh và tất cả các cơ quan trung ương Tòa Thánh, cũng như tất cả những người phục vụ Tòa Thánh trong các lãnh vực khác nhau,: có biết bao khuôn mặt không nổi bật, ở trong bóng tối, nhưng chính trong thinh lặng, trong sự tận tụy hằng ngày, với tinh thần đức tin và lòng khiêm tốn, đã là một sự nâng đỡ chắc chắn và đáng tin cậy. Một tư tưởng đặc biệt tôi xin gửi tới Giáo Hội Roma, giáo phận của tôi. Tôi không thể quên các anh em trong Hội đồng Giám mục và Linh mục, những người sống đời thánh hiến và toàn thể Dân Chúa: trong các chuyến viếng thăm mục vụ, trong các cuộc gặp gỡ, các buổi tiếp kiến, các chuyyến công du, tôi đã luôn luôn trực giác được sự chú ý lớn lao và lòng trìu mến sâu xa. Tôi cũng đã yêu thương tất cả và từng người một, mà không phân biệt, với tình bác ái mục tử là con tim của mọi Chủ chăn, nhất là của Giám mục Roma, của Người Kế Vị Tông Đồ Phêrô. Mỗi ngày tôi đã mang từng người trong anh chị em trong lời cầu nguyện của tôi, với con tim của một người cha."

Đức Thánh Cha nói thêm trong bài huấn dụ: "Tôi muốn rằng lời chào và cảm ơn của tôi tới được với tất cả mọi người: trái tim của một Giáo Hoàng mở rộng ra cho toàn thế giới. Và tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn của tôi với Ngoại giao đoàn cạnh Tòa Thánh, khiến cho đại gia đình của các quốc gia hiện diện. Ở đây tôi cũng nghĩ tới tất cả những ai làm việc cho một sự truyền thông tốt đẹp và tôi xin cám ơn công việc phục vụ của họ. Tới đây tôi muốn thật sự hết lòng cám ơn tất cả mọi người trên thế giới trong các tuần qua đã gửi tới tôi các dấu chỉ cảm động của sự chú ý, tình bạn và lời cầu nguyện. Phải, Giáo Hoàng không bao giờ cô đơn, giờ này tôi còn cảm nghiệm được điều đó một lần nữa đánh động con tim một cách lớn lao như vậy. Giáo Hoàng thuộc về tất cả mọi người, và biết bao nhiêu người cảm thấy họ gần gũi ngài. Có đúng thật là tôi đã nhận được rất nhiều thư của các nhân vật quan trọng trên thế giới - từ các quốc trưởng các nước, từ các vị lãnh đạo tôn giáo, từ các đại diện của thế giới văn hóa, v.v.. Nhưng tôi cũng nhận được rất nhiều thư của những người đơn sơ viết cho tôi một cách đơn sơ từ trái tim của họ, và khiến cho tôi cảm thấy lòng thương mến của họ, nảy sinh từ việc cùng nhau ở với Chúa Giêsu Kitô, trong Giáo Hội. Những người này không viết cho tôi, ví dụ như viết cho một ông hoàng hay cho một người lớn mà họ không quen biết. Họ viết cho tôi như các anh chị em hay như con cái, với ý thức về một mối dây gia đình rất yêu mến. Ở đây người ta có thể sờ mó được bằng tay Giáo Hội là gì - không phải là một tổ chức, một hiệp hội, có các mục đích tôn giáo hay nhân đạo, nhưng là một thân thể sống động, một sự hiệp thông giữa các anh chị em với nhau trong Thân Mình của Chúa Giêsu Kitô, là Đấng hiệp nhất tất cả chúng ta. Sống kinh nghiệm Giáo Hội trong kiểu này, và hầu như có thể sờ mó được bằng tay sức mạnh chân lý và tình yêu của nó, là lý do vui sướng, trong một thời đại, trong đó biết bao nhiêu người đang nói về sự suy tàn của Giáo Hội."

Đề cập tới quyết định từ nhiệm của ngài, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI giải thích như sau: "Trong những tháng cuối cùng này, tôi đã cảm thấy sức lực của tôi giảm sút, và trong lời cầu nguyện tôi đã nài nỉ Thiên Chúa, soi dẫn cho tôi với một ánh sáng của Người để làm cho tôi lấy một quyết định đúng đắn hơn, không phải cho thiện ích của tôi, nhưng cho thiện ích của Giáo Hội. Tôi đã đi bước này trong ý thức tràn đầy về sự nghiêm trọng và cũng mới mẻ của nó, nhưng với một sự thanh thản sâu xa trong tâm hồn. Yêu thương Giáo Hội cũng có nghĩa là can đảm có những lựa chọn khó khăn, đau khổ, nhưng luôn luôn có trước mắt thiện ích của Giáo Hội, chứ không phải của chính mình.

Ở đây xin cho phép tôi trở lại ngày 19-4-2005 một lần nữa. Sự nghiêm trọng của quyết định cũng đã là ở nơi sự kiện từ lúc đó trở đi tôi đã được luôn luôn và vĩnh viễn dấn thân bởi Chúa. Luôn luôn - ai lãnh sứ vụ Phêrô thì không còn có sự tư riêng nào nữa. Người ấy luôn luôn và hoàn toàn thuộc về tất cả mọi người, thuộc về toàn thể Giáo Hội. Như thể nói rằng chiều kích riêng tư bị lấy mất khỏi cuộc sống người ấy. Tôi đã kinh nghiệm và tôi đang trải nghiệm điều đó giờ đây, rằng một người nhận lấy cuộc sống chính khi cho nó đi. Trước đây tôi đã nói rằng nhiều người yêu mến Chúa thì cũng yêu mến Người Kế Vị Thánh Phêrô và cũng trở thành trìu mến đối với ngài; rằng Giáo Hoàng thật sự có các anh chị em, con cái nam nữ trên toàn thế giới, và rằng ngài cảm thấy an toàn trong vòng tay sự hiệp thông của họ; bởi vì ngài không thuộc về chính mình nữa, nhưng thuộc về tất cả mọi người và tất cả mọi người thuộc về ngài."

Đức Thánh Cha giải thích thêm ý nghĩa sự kiện "luôn luôn" như sau: "Sự 'luôn luôn' cũng là một sự 'vĩnh viễn' - không còn có việc trở lại sự riêng tư nữa. Quyết định của tôi từ bỏ việc tích cực thi hành sứ vụ không thu hồi điều này. Tôi không trở lại đời sống tư, một đời sống gồm các cuộc du hành, các cuộc gặp gỡ, tiếp kiến, diễn thuyết, v.v.. Tôi không từ bỏ thập giá, nhưng tôi ở lại trong một cach thức mới mẻ gần Chúa bị đóng đinh. Tôi không mang quyền bính của nhiệm vụ cai quản Giáo Hội nữa, nhưng như để nói rằng trong việc phục vụ cầu nguyện tôi ở bên trong ranh giới của thánh Phêrô. Thánh Bênêđictô, mà tôi mang tên như Giáo Hoàng, sẽ là gương sáng vĩ đại cho tôi trong điều này. Người đã chỉ cho chúng ta thấy con đường cho một đời sống, mà tích cực hay thụ động, hoàn toàn tùy thuộc vào công trình của Thiên Chúa.

Tôi xin cám ơn tất cả và từng người một, cả về sự tôn trọng và cảm thông mà với chúng anh chị em đã tiếp nhận quyết định quan trọng này. Tôi sẽ tiếp tục đồng hành với con đường của Giáo Hội bằng lời cầu nguyện và suy tư, với sự tận tụy đối với Chúa và Hiền Thê của Người, mà tôi đã tìm cách sống cho tới giờ này mỗi ngày, và tôi muốn sống nó luôn mãi. Tôi xin anh chị em nhớ tới tôi trước mặt Thiên Chúa, và nhất là cầu nguyện cho các Hồng y, được mời gọi cho một nhiệm vụ lớn lao như vậy, và cho Người Kế Vị mới của Tông Đồ Phêrô: xin Chúa đồng hành cùng ngài với ánh sáng và sức mạnh của Thần Khí Người.

Chúng ta hãy khẩn nài sự bầu cử hiền mẫu của Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa, để Mẹ đồng hành với từng người trong chúng ta và toàn thể cộng đoàn Giáo Hội; Chúng ta hãy phó thác cho Mẹ với lòng tin tưởng sâu xa. Các bạn thân mến! Thiên Chúa hướng dẫn Giáo Hội, Người luôn đỡ nâng Giáo Hội, cả và nhất là trong những lúc khó khăn. Chúng ta đừng bao giờ mất đi quan niệm đức tin này, là quan niệm duy nhất đích thực của con đường của Giáo Hội và của thế giới. Ước chi trong con tim chúng ta, trong con tim của từng người trong chúng ta, luôn có sự chắc chắn tươi vui rằng Chúa ở gần chúng ta, Người không bỏ rơi chúng ta, Người ở gần chúng ta và bao bọc chúng ta với tình yêu của Người. Xin cám ơn anh chị em!"

Bài huấn dụ của Đức Thánh Cha đã bị ngắt quãng nhiều lần bởi các tràng pháo tay của tín hữu.

Khi Đức Thánh Cha kết thúc bài huấn dụ, các Hồng y và mọi người đã đứng lên vỗ tay rất lâu. Đức Thánh Cha cũng đứng lên đáp lễ. Tiếp đến Đức Thánh Cha đã chào tín hữu bằng các thứ tiếng Pháp, Anh, Đức, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, A rập, Ba Lan, Croat, Tchèques, Slovac, Rumani và tiếng Ý.

Chào các tín hữu Italia, Đức Thánh Cha nói: "Các bạn thân mến, tôi xin cám ơn sự tham dự đông đảo của các bạn trong buổi gặp gỡ này, cũng như lòng thương mến của các bạn và niềm vui của đức tin. Đó là các tâm tình mà tôi xin hết lòng đổi lại bằng cách bảo đảm với các bạn lời cầu nguyện của tôi cho các bạn hiện diện nơi đây, cũng như cho thân bằng quyến thuộc và những người thân thiết của các bạn."

Ngỏ lời với người trẻ, Đức Thánh Cha xin Chúa đổ tràn đầy tình yêu của Người trong tim họ để họ sẵn sàng hăng hái theo Chúa. Đức Thánh Cha xin Chúa nâng đỡ các người đau yếu để họ chấp nhận gánh nặng của khổ đau với sự thanh thản. Và ngài xin Chúa hướng dẫn các cặp vợ chồng mới cưới biết làm cho gia đình họ lớn lên trong sự thánh thiện.

Sau cùng Đức Thánh Cha đã cất kinh Lạy Cha và ban phép lành Tòa Thánh cho mọi người.

Lúc 11 giờ sáng thứ năm 28-2-2013, Đức Thánh Cha gặp các Hồng y hiện diện tại Roma trong phòng Clemente để chào từ biệt các vị. Vào lúc 5 giờ chiều, ngài lấy trực thăng đi Castel Gandolfo. Vào lúc 5 giờ 30 chiều, ngài ra bao lơn dinh nghỉ mát Castel Gandolfo để chào tín hữu thành phố. Đây cũng là lần xuất hiện cuối cùng trong tư cách là Giáo Hoàng Roma. Vì từ lúc 8 giờ tối sau đó, ngài không còn giữ chức Chủ chăn Giáo Hội Công giáo hoàn vũ nữa. Tuy vẫn tiếp tục được gọi là Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI, hay Đức Nguyên Giáo Hoàng Bênêđictô XVI, hay Đức Nguyên Giáo Hoàng, nhưng Đức Ratzinger sẽ chỉ mặc áo chùng trắng, không có mảnh áo khoác ngắn trên vai, không có nhẫn Giáo Hoàng, vì nhẫn này sẽ bị phá hủy, và cũng không mang giầy màu đỏ. Cũng từ lúc 8 giờ tối thứ năm 28-2-2013, đội cận vệ Thụy Sĩ tại Castel Gandolfo chấm dứt nhiệm vụ và giao quyền lại cho đội Hiến binh Vatican. Đức Ratzinger sẽ cư ngụ tại Castel Gandolfo vài tháng trước khi về sống trong tu viện của các nữ tu dòng kín được tu sửa lại, tại nội thành Vatican trong thinh lặng và cầu nguyện.

Cùng hiệp ý với tín hữu Công giáo toàn thế giới, chúng ta hãy cầu nguyện cho Đức Bênêđictô XVI, cho Giáo Hội, và cho Hồng y đoàn sắp nhóm Mật nghị. Xin Chúa Thánh Thần soi sáng để các vị bầu vị Tân Giáo Hoàng theo ý Chúa muốn.


Linh Tiến Khải

(Nguồn: R.Vatican)
Read more…

Đức Thánh Cha thành lập Hàn Lâm Viện Tòa thánh về tiếng la tinh

9:58 AM |


Đức Thánh Cha thành lập Hàn Lâm Viện Tòa thánh về tiếng la tinh

Vatican
VATICAN. Hôm 10-11-2012, ĐTC Biển Đức 16 đã ban hành Tự Sắc "Latina Lingua" thành lập Hàn lâm viện Tòa Thánh về tiếng la tinh nhắm cổ võ việc học tiếng la tinh trong các cơ sở giáo dục Công Giáo.
Trong phần đầu của Tự Sắc, ĐTC nhắc đến tầm quan trọng của tiếng la tinh trong truyền thống Giáo Hội, sự suy giảm việc học ngôn ngữ này trong các chủng viện và học viện của Giáo Hội, và hiện tượng tái quan tâm đến tiếng la tinh tại nhiều nơi kể cả trong giới văn hóa đời. Để góp phần hỗ trợ nỗ lực quảng bá sự hiểu biết và sử dụng tiếng la tinh trong lãnh vực Giáo Hội cũng như trong môi trường văn hóa rộng lớn hơn, ĐTC quyết định thành lập Hàn lâm viện Tòa Thánh về tiếng la tinh, trực thuộc Hội đồng Tòa Thánh về văn hóa.
Hàn lâm viện này có một vị Chủ tịch, một vị Tổng thư ký do ĐTC bổ nhiệm, và có một Hội đồng học vụ.
Phần hai của Tự Sắc trình bày qui chế của Hàn Lâm Viện Tòa Thánh về tiếng la tinh, gồm 10 điều khoản, được ĐTC phê chuẩn để thử nghiệm trong vòng 5 năm.
Khoản 2 của qui chế xác định rằng: Mục đích Hàn lâm viện Tòa Thánh về tiếng la tinh là cổ võ sự hiểu biết và học tiếng la tinh và văn chương la tinh cổ điển cũng như văn chương giáo phụ, tiếng la tinh thời trung cổ và thời nhân bản (thế kỷ 14), đặc biệt trong các cơ sở giáo dục Công Giáo, nơi mà các chủng sinh và LM được huấn luyện. Ngoài ra, Hàn lâm viện cũng cổ võ việc việc sử dụng tiếng la tinh như ngôn ngữ viết và nói.
Để đạt tới những mục tiêu ấy, Hàn lâm viện Tòa Thánh chăm lo ấn hành sách báo, tổ chức các cuộc gặp gỡ, hội nghị nghiên cứu và các trình diễn nghệ thuật; mở và nâng đỡ các khóa học, các cuộc hội luận và cc sáng kiến giáo dục khác, cộng tác với Giáo Hoàng Học Viện cao đẳng về la tinh; giáo dục các thế hệ trẻ về tiếng la tinh, kể cả qua các phương tiện truyền thông hiện đại...
Các điều khoản kế tiếp nói về nhiệm vụ của vị Chủ tịch, và tổng thư ký của Hàn lâm viện do ĐTC bổ nhiệm với nhiệm kỳ 5 năm; tiếp đến là Hội đồng học vụ. Hàn lâm viện có các viện sĩ chính ngạch, với con số không quá 50 người, do Vị Quốc vụ khanh Tòa Thánh bổ nhiệm. Khi còn 80 tuổi, họ trở thành viện sĩ danh dự (emeriti). Ngoài ra có các viện sĩ thông tấn (membri corrispondenti).
Tự Sắc của ĐTC cũng tuyên bố chấm dứt tổ chức Latinitas và tạp chí Latinitas của tổ chức này.
Cũng ngày 10-11-2012 ĐTC đã bổ nhiệm Giáo Sư Ivano Dionigi, Viện trưởng đại học Bologna, làm Chủ tịch đầu tiên của Hàn lâm viện Tòa Thánh về tiếng la tinh, đồng thời bổ nhiệm cha Roberto Spataro, dòng Don Bosco, làm Tổng thư ký của Viện này. (SD 10-11-2012)
G. Trần Đức Anh OP
Nguồn: WHĐ
Read more…

Hai người tranh chức Phó TT Mỹ lên tiếng trong tư cách Công giáo

5:53 AM |

153950662-10-jpg_014655

Vũ Văn An

Trong chiến dịch tranh cử hiện nay giữa hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ, các vấn đề tôn giáo ít được nêu ra. Người ta chú trọng nhiều hơn đến các vấn đề kinh tế và ngoại giao. Nhiều người cho chuyện này rất thích hợp vì nguyên tắc tách biệt giữa tôn giáo và chính trị. Có người còn trích dẫn câu “của Xêda trả cho Xêda, của Chúa trả cho Chúa”. Câu này đã bị nhiều người mặc tình giải thích thế nào thì giải thích, đến độ của Chúa càng ngày càng bị thu nhỏ lại, còn của Xêda càng ngày càng phình ra như con ễnh ương. Buộc tôn giáo phải lui vào khu vực tư của lương tâm cá nhân. Điều mà nhất định Chúa Giêsu không muốn nói. Chưa kể chuyện này: mấy anh Cộng Hòa cũng như Dân Chủ chẳng tôn trọng cái câu muôn thuở đó của Chúa Kitô, và càng ngày càng pha mình vào việc coi thường những gì là “của Thiên Chúa” đến độ trên thực tế Thiên Chúa còn đâu để mà đòi hỏi của này của nọ.
Có lẽ vì thế, Tạp chí America vừa gửi cho hai ông Jos. R. Biden và Paul D. Ryan, hai ứng cử viên phó tổng thống một loạt câu hỏi để các ông trả lời trong tư cách Công Giáo. Ta biết cuộc bầu cử tại Hoa Kỳ lần này là lần đầu tiên trong lịch sử với cả hai ứng cử viên phó tổng thống đều là người Công Giáo. Trong cố gắng tìm hiểu tư tưởng của họ liên quan tới các vấn đề đức tin, sinh hoạt công cộng, tạp chí America đã gửi cho mỗi ứng cử viên 5 câu hỏi giống nhau. Và sau đây là các câu trả lời của họ:
I. Phó Tổng Thống Joseph R. Biden Jr:
Câu hỏi 1: Trong những hoàn cảnh nào, chiến tranh được biện minh về phương diện luân lý?
Trả lời: Chiến tranh được biện minh về phương diện luân lý khi nó cần thiết để bảo vệ an ninh của người vô tội chống lại hành động gây hấn. Sự đe dọa phải trầm trọng và chắc chắn. Phải đưa ra mọi cố gắng để tránh tranh chấp một cách hòa bình.
Câu hỏi 2: Các ý thức hệ chính trị đều mang theo các giả định về điều tốt nhất cho người nghèo. Ông hãy mô tả kinh nghiệm bản thân với những người hiện sống trong cảnh nghèo và điều này đã giúp lên khuôn ý thức hệ chính trị của ông ra sao.
Trả lời: Trước nhất, tôi xin nói: không phải mọi ý thức hệ chính trị đều mang theo giả định về điều tốt nhất cho người nghèo. Nhưng theo quan điểm của tôi, bất cứ ý thức hệ chính trị chính đáng nào cũng phải xem sét vấn đề căn bản này.
Kinh nghiệm của tôi với những người hiện sống trong cảnh nghèo có phạm vi hoàn cầu từ Darfur và Chad tới Ấn Độ, Châu Mỹ La Tinh. Nhưng sâu sắc hơn cả, tôi đã được chứng kiến cảnh nghèo tại quê hương ta, bất chấp ở vùng Appalachia, nơi tôi từng viếng thăm hay tại tiểu bang quê tôi là Delaware.
Khi tôi còn là một đứa trẻ, cha tôi không bao giờ bước qua một người ăn mày trên đường phố, dù một ai đó bảo người rằng: “Joe ạ, tôi biết điều hắn sắp làm là đi mua rượu”. Cha tôi sẽ trả lời: “ông nghĩ nếu thực sự được lựa chọn, ông ta sẽ tự ý đứng ở đây hay sao?” Khi hiểu rõ ta có thể làm nhẹ cảnh nghèo, tôi bắt đầu giả định rằng có cơ hội chính đáng, ai cũng sẽ cố gắng trách nhiệm lấy đời mình. Nếu có cơ may, và khả năng tâm trí, người nào cũng sẽ đáp ứng các sáng kiến. Đó là lý do khiến tôi ủng hộ các đạo luật an-sinh-để-có-việc-làm khi còn là một thượng nghị sĩ. Đó cũng là lý do khiến tôi ủng hộ các chương trình nuôi dưỡng và chăm sóc sức khỏe cho trẻ em. Một người mẹ có thể trốn tránh trách nhiệm nhưng con cái bà thì không hề có cái khả năng ấy. Tổng thống và tôi ủng hộ sáng kiến an toàn thực phẩm của Châu Phi, một sáng kiến không chỉ nhằm giảm nghèo mà còn nhằm đem lại ổn định cho các quốc gia Châu Phi. Tất cả đều là con cái ta. Chúng là những sợi dây diều sẽ nâng các tham vọng quốc gia của ta lên cao.
Câu hỏi 3: Nếu có 5 phút với Đức Giáo Hoàng, ông sẽ nói gì với ngài?
Trả lời: Năm ngoái, tôi có vinh dự lớn được gặp Đức Giáo Hoàng tại Vatican, và hai chúng tôi đã có cuộc thảo luận rộng rãi về nhiều vấn đề. Thảo luận về cuộc đàm đạo riêng tư đó, đối với tôi, là điều không thích đáng. Nhưng tôi rất có ấn tượng về sự cởi mở và thông sáng của ngài. Nếu có dịp được gặp lại, tôi muốn được nghe ngài nói nhiều hơn về chuyến tông du Libăng vừa qua, ý nghĩ của ngài về Mùa Xuân Ả Rập và quan tâm của ngài về sự bất khoan dung tôn giáo. Thêm vào các vấn đề chiến tranh và hòa bình, tôi muốn có dịp thảo luận một số vấn đề hiện đang thách thức Giáo Hội khắp thế giới và tại Hoa Kỳ.
Câu hỏi 4: Ông có nghĩ là có một ơn gọi chính trị không? Phải biểu lộ nó trong đời sống ông ra sao? 
Trả lời: Tôi nghĩ có nhiều loại ơn gọi khác nhau. Giống nhiều trẻ trai Công Giáo khác, lúc còn nhỏ, tôi cũng đã nghĩ đến đời sống tu trì. Tôi được nuôi dưỡng trong một gia đình trong đó, có sự đồng thuận tuyệt đối giữa các giá trị thầy mẹ tôi bảo ban và các giá trị được đức tin của tôi truyền dạy. Các giá trị này kết luận rằng bạn quả có nghĩa vụ phải vươn tay ra nắm lấy anh chị em đang túng thiếu của bạn, bạn có nghĩa vụ phải đứng lên tranh đấu khi thấy bất công, bạn có nghĩa vụ phải lên tiếng khi có thể làm sự việc tốt hơn. Khi còn là học sinh trung học và sinh viên cao đẳng, ý thức chính trị của tôi được lên khuôn bởi thời tổng thống của John F. Kennedy và phong trào dân quyền của Martin Luther King. Tổng Thống Kennedy làm tôi tin rằng dấn thân vào chính trị là một nghề cao quí, còn Tiến Sĩ King thì giúp tôi hiểu ra rằng ta có nhiều phương tiện biến đổi thế giới nên tốt đẹp hơn.
Nhưng việc dấn thân ấy có thể mang nhiều hình thức khác nhau, giống như trong gia đình tôi. Vợ tôi là một nhà giáo dục tận tụy. Con gái tôi là một nhân viên xã hội. Một trong các con trai của tôi thì dấn thân sâu vào việc xử lý cảnh nghèo đói khắp thế giới trong tư cách chủ tịch Chương Trình Thực Phẩm Thế Giới của Hoa Kỳ. Đứa con trai khác thì lại tuyệt đối dấn thân cho việc chấm dứt việc bạo hành phụ nữ và trẻ em, trong tư cách bộ trưởng tư pháp của tiểu bang Delaware. Có rất nhiều phương cách để dấn thân. Nhưng trong gia đình tôi, tôi được dạy rằng điều cần là phải dấn thân.
Câu hỏi 5: Trong đời ông làm chính khách Hoa Kỳ, điều gì gây tranh chấp lớn nhất đối với ông trong tư cách Công Giáo?
Trả lời: Trong đời tôi, vì được một bà mẹ Công Giáo Ái Nhĩ Lan ngoan đạo dưỡng dục, được các nữ tu và linh mục giáo dục, và luôn thực hành niềm tin của mình trong những năm qua, đức tin của tôi không tạo nên một tranh chấp nào cho tôi cả, trái lại đã ban cho tôi một cơ sở vững vàng.
Đức tin ấy đã hướng dẫn nền chính trị của tôi một cách mà không điều gì khác có thể làm được. Học thuyết xã hội Công Giáo vốn là nguyên tắc hướng dẫn các lá phiếu và chức vụ tôi từng đảm nhiệm suốt trong sự nghiệp của tôi, đối với các vấn đề từ các chương trình chống nghèo đói tới việc bạo hành phụ nữ, hệ thống công lý hình sự, cũng như các liên hệ quốc tế.
II. Dân Biểu Paul D. Ryan
Câu hỏi 1: Trong những hoàn cảnh nào, chiến tranh được biện minh về phương diện luân lý?
Trả lời: Chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ cần có sự rõ ràng về luân lý và sự vững chắc về mục đích. Chỉ với việc vững vàng thi hành ảnh hưởng của Hoa Kỳ, ta mới thắng được sự ác và bạo hành. Đó là cách ta giữ cho các nan đề ở ngoại quốc khỏi trở thành khủng hoảng. Đó là cách duy trì hòa bình.
Mitt Romney vốn nói rằng ông chỉ phái binh sĩ vào trận trong những tình huống hết sức đặc biệt. Thứ nhất, cần thiết là quyền lợi sinh tử của Hoa Kỳ phải lâm nguy. Thứ hai, cần phải xác định rõ sứ mệnh của ta. Thứ ba, cần xác định rõ khi nào sứ mệnh của ta hoàn tất. Thứ tư, phải cung cấp tài nguyên dư thừa để bảo đảm sứ mệnh của ta được thực thi cách hữu hiệu. Và sau cùng, phải hiểu rõ điều còn lại sau khi ta rút đi. Tất cả những điều này phải được xác định trước khi Mitt Romney khai triển sức mạnh quân sự tại bất cứ nơi nào ở ngoại quốc.
Câu hỏi 2: Các ý thức hệ chính trị đều mang theo các giả định về điều tốt nhất cho người nghèo. Ông hãy mô tả kinh nghiệm bản thân với những người hiện sống trong cảnh nghèo và điều này đã giúp lên khuôn ý thức hệ chính trị của ông ra sao.
Trả lời: Khi còn nhỏ, tôi làm thiện nguyện tại những cơ sở nấu cháo (cho người nghèo). Hiện nay, tôi vẫn dẫn các con tôi đi phục vụ bữa ăn tại một nhà dưỡng lão tại Janesville. Bài học tôi hay chia sẻ với các con là: để có thể hiểu được nỗi khổ đau của con người, điều quan trọng là phải nhìn thẳng vào những người các con phục vụ. Ta phải nhìn nhận phẩm giá của từng người con của Thiên Chúa.
Các nhà tạo chính sách có trách nhiệm phải xử lý các nguyên nhân gốc gây ra cảnh nghèo, chứ không phải chỉ đương đầu với các triệu chứng của thực tại bi thảm này mà thôi. Đức tin Công Giáo của tôi luôn cổ vũ việc ưu tiên chọn người nghèo. Điều này không đồng nghĩa với việc ưu tiên chọn một chính phủ lớn hơn.
Chính phủ Romney-Ryan sẽ cổ vũ các giải pháp nhằm tối đa hóa sự phát triển và cơ may, chuyển động đi lên và an toàn kinh tế. Chúng tôi bác bỏ phương thức thất bại cứ mở rộng hoài chính phủ liên bang đến độ thay thế hẳn các định chế có ý nghĩa như gia đình, các tổ chức dân chính và các cộng đồng đức tin, tức các định chế nơi ta thực sự chăm sóc cho nhau. Đúng, lưới an toàn của chính phủ cần để giúp những người không có phương tiện trợ giúp nào khác. Nhưng tôi tin rằng giáo huấn của Giáo Hội đòi nhiều hành động tích cực hơn là chỉ trợ giúp: nó đòi ta phải hành động để phá vỡ toàn bộ cái chu kỳ nghèo đói, và điều này đòi phải có một phương thức hoàn toàn khác với phương thức của Tổng Thống Obama, người mà thành tích kinh tế đã tạo ra tỷ số nghèo đói nhất trong thế hệ này.
Câu hỏi 3: Nếu có 5 phút với Đức Giáo Hoàng, ông sẽ nói gì với ngài?
Trả lời: Tôi sẽ kính cẩn xin ngài cầu nguyện cho sự an vui của mọi người dân nước ta, không trừ một ai.
Câu hỏi 4: Ông có nghĩ là có một ơn gọi chính trị không? Phải biểu lộ nó trong đời sống ông ra sao? 
Trả lời: Ơn gọi đầu tiên của tôi là làm một người chồng và một người cha tốt. Một trong các yêu cầu của tôi khi tham gia cuộc tranh cử là được về nhà ở Janesville, Wisonsin, vào mỗi Chúa Nhật để tham dự Thánh Lễ với gia đình tôi. Tôi về nhà hầu hết các Chúa Nhật và khi du hành, tôi luôn tìm ra buổi lễ ở nhà thờ để tham dự. Giáo Hội dạy rằng mọi người Công Giáo có nghĩa vụ làm công dân tích cực nhưng cũng có ơn gọi chính trị đối với một số người được kêu gọi. Tôi tin rằng các công chức được kêu gọi hợp tác trong việc tạo cơ hội kinh tế và các điều kiện cho một đời sống gia đình toàn vẹn và mạnh mẽ. Tôi tin vào quyền được giúp các cá nhân, được sống liên đới với nhau trong các cộng đồng của ta. Tôi cũng tin rằng chính phủ nào gần gũi với người được cai trị nhất là chính phủ cai trị tốt nhất. Ta không tin vào điều Chân Phúc Giáo Hoàng Gioan Phaolô II gọi là nhà nước trợ giúp xã hội, hay một nhà nước chuyên lo hình thức an sinh bao trùm mọi người, một nhà nước bị Đức GH Bênêđíctô XVI chỉ trích. Theo chúng ta, gia đình truyền thống là cái nhân của xã hội, và phẩm giá cá nhân của con người phải được biểu lộ trong nền kinh tế tự do.
Các đại biểu chính trị của Hoa Kỳ có bổn phận luân lý và hợp hiến phải bảo vệ quyền tự do tôn giáo của Tu Chính Án Thứ Nhất. Chúng ta rất quan tâm đối với cuộc tấn công vào tự do tôn giáo của chính phủ Obama. Ta không nên đòi các giáo hội, các cơ quan bác ái và bệnh viện phải làm những điều vi phạm tới tự do tôn giáo và lương tâm của họ. Chính phủ của ta hiện nay đặt các giáo hội và cao đẳng của ta vào một cái thế khiến họ phải kiện chính phủ để bảo vệ quyền tự do tôn giáo của họ theo Tu Chính Án thứ nhất.
Câu hỏi 5: Trong đời ông làm chính khách Hoa Kỳ, điều gì gây tranh chấp lớn nhất đối với ông trong tư cách Công Giáo?
Trả lời: Thành thực mà nói, tôi không bao giờ có một tranh chấp nghiêm trọng nào về lương tâm trong tư cách một chính khách Công Giáo. Lý do là tôi đã nhận ra rằng các nghĩa vụ Công Giáo của tôi phù hợp với các nghĩa vụ chính trị theo Hiến Pháp của tôi. Đôi khi quả là thất vọng khi một vài chính sách hay luật lệ không nhất quán với sự thật luân lý theo cái hiểu của mình. Nhưng lý do lớn nhất giúp cho Hoa Kỳ tiếp tục là một quốc gia ngoại hạng là nhân dân ta vẫn tự cai trị mình trong tự do, điều này có nghĩa các chính sách đi ngược lại các nguyên tắc luân lý của ta vẫn có thể được thay đổi nhờ diễn trình bầu cử, như ta sẽ được chứng kiến một lần nữa vào ngày 6 tháng Mười Một.
Ghi chú bên lề: nhiều người đọc các câu trả lời này đều cho hay: cả hai ứng cử viên đều không trung thực khi cho rằng không gặp khó khăn nào từ phía tôn giáo đối với sự nghiệp chính trị của mình. Đàng khác, khi Dân Biểu Ryan nói: chỉ yêu cầu Đức GH cầu nguyện, thì hình như ông muốn đẩy ngài vào một góc phòng khá chật hẹp.
Read more…

AI Video maker

pictory

Code type Ad code