T.M. - TỪ ĐIỂN NGUỒN GỐC TIẾNG VIỆT

12:47 PM |

T.M. - TỪ ĐIỂN NGUỒN GỐC TIẾNG VIỆT



Một tài liệu tham khảo vô cùng giá trị và hữu ích 

Dân tộc ta từng bị Trung Hoa đô hộ trên một ngàn năm. Sau khi giành lại quyền tự chủ, các triều đại Việt Nam đã mô phỏng phương cách tổ chức hành chánh cùng chế độ thi cử của Trung Hoa. Vì thế về phương diện hành chánh cũng như học vấn, ta đã mượn của họ rất nhiều danh từ: Tể tướng, Thượng thư, Tham tri, Tổng đốc, Tuần phủ, Tri phủ, Tri huyện, Đốc học …, Trạng nguyên, Bảng nhãn, Tiến sĩ, Cử nhân, Tú tài … Tiền nhân ta lại chịu ảnh hưởng của Nho học, do đó, các danh từ với ý nghĩa triết lý và luân lý trong tiếng Việt cũng được mượn của Trung Hoa: tam cương (quân thần, phụ tử, phu phụ), ngũ luân (thêm huynh đệ, bằng hữu), ngũ thường (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín), tứ đức (công, dung, ngôn, hạnh)… Vì thế trong kho tàng tiếng Việt, số từ có gốc Hán nhưng phát âm khác Trung Hoa (ta thường gọi là “từ Hán Việt”) rất nhiều. Vì những lẽ ấy, nhiều người đã có nhận định sai lầm rằng “tiếng Tàu là ngưồn gốc của tiếng Việt.”

Dĩ nhiên trước khi tiếp xúc với người Trung Hoa, dân tộc ta đã có tiếng nói. Đó là tiếng nói của vua Hùng, các Lạc hầu, Lạc tướng, cùng cư dân nước Văn Lang, của những người dựng nên các nền văn minh Đông Sơn, Hòa Bình …Ngôn ngữ của những người đầu tiên xuất hiện ở đồng bằng sông Hồng, sông Mã … có nhiều điểm tương tự với ngôn ngữ của những người ở một số nơi khác trong khu vực Đông Nam Á. Trong tiếng Việt có rất nhiều từ giống tiếng Mường (gần ta nhất vì chung một gốc), nhưng cũng có nhiều từ giống tiếng Thái, tiếng Lào, tiếng Môn (được nói ở một số vùng phía Đông Miến Điện), tiếng Khmer (Cam bốt), tiếng Chăm (Chàm) … Cũng có nhiều từ giống các ngôn ngữ Mã Lai và Nam Dương. Các nhà ngữ học hiện đại đã xếp tiếng Việt, tiếng Mường, tiếng Thái, tiếng Môn, tiếng Khmer …vào ngữ tộc Nam Á (AustroAsiatic), các tiếng Mã Lai, Nam Dương … vào ngữ tộc Nam Đảo (Austronesian). Đi xa hơn, cả Nam Á và Nam Đảo lại có thể xếp chung trong đại ngữ tộc Austric vì có nhiều từ và đặc điểm giống nhau. Trong khi tiếng Trung Hoa thuộc một ngữ tộc khác hẳn, ngữ tộc Hoa Tạng (Sino-Tibetan). Đứng về phương diện ngữ vị và cú pháp, hai hệ thống Nam Á (với tiếng Việt trong đó) và Hoa Tạng (của tiếng Hoa) khác nhau rất xa.

Rất nhiều chuyên viên, học giả đã nhận thấy cùng nêu ra những điểm tương đồng và mối liên hệ giữa tiếng Việt với các ngôn ngữ Đông Nam Á khác. Đầu thập niên 1970, nhà văn Bình Nguyên Lộc hoàn thành tác phẩm Nguồn Gốc Mã Lai của Dân Tộc Việt Nam. Tuy nhiên cho tới nay mới thấy xuất hiện những nhận xét hoặc công bố lẻ tẻ, toàn bộ sự kiện chưa được trình bày một cách có hệ thống và tương đối đầy đủ. Mãi tới năm nay, 2014, mối liên hệ chặt chẽ giữa tiếng Việt và các ngôn ngữ Đông Nam Á khác mới được trưng ra một cách thật rõ và tạm đủ qua bộ Từ Điển Nguồn Gốc Tiếng Việt của bác sĩ Nguyễn Hy Vọng.

Tuy là một y khoa bác sĩ, bác sĩ Nguyễn Hy Vọng tỏ ra có khiếu về ngôn ngữ và say mê khảo cứu về ngôn ngữ từ rất lâu. Ông thông thạo nhiều ngôn ngữ Đông Nam Á và  Nam Á (tiếng Lào, tiếng Thái, tiếng Chăm, tiếng Môn, tiếng Khmer …). Khi biên soạn bộ từ điển này, ông học thêm một số ngôn ngữ khác (tiếng Mã Lai, Nam Dương …). Sự thông thạo ấy giúp công việc của ông rất nhiều. Ngay từ năm 1952, ông đã cộng tác với học giả Đào Đăng Vỹ trong việc biên soạn bộ Pháp Việt Đại Tự Điển. Qua năm 1954, hai vị có thêm Pháp Việt Tiểu Từ Điển. Tới năm 1960, ông tiếp tay học giả họ Đào trong việc  soạn Việt Nam Bách Khoa Từ Điển. Ông học hỏi thêm về ngữ học với nhà dân tộc học và ngữ học Nguyễn Bạt Tụy. Khi biên soạn bộ từ điển này, ông trao đổi thêm rất nhiều với nhà văn Bình Nguyên Lộc và giáo sư Nguyễn Đình Hòa cho tới khi các vị qua đời.

Bác sĩ Nguyễn Hy Vọng khởi công biên soạn Từ Điển Nguồn Gốc Tiếng Việt từ năm 1981, hơn 30 năm trước đây. Ở mỗi chặng, ông được sự góp ý cùng khích lệ của các tiền bối và những vị có thẩm quyền:

Học giả Đào Đăng Vỹ:
“Tôi vui mừng vô hạn khi biết công trình khảo cứu về nguồn gốc tiếng Việt của anh sắp thành tựu. Thật là một kỳ công. Tôi muốn bày tỏ lòng khâm phục sâu xa của một đàn anh, chỉ hơn anh ở tuổi mà thôi. Đó là phúc cho tương lai văn hóa dân tộc vì nó đúng là một phát minh mới, hết sức quan trọng …”

Nhà dân tộc học và ngữ học Nguyễn Bạt Tụy:
“Nếu gặp một người Mường di cư từ những vùng Hòa Bình, Thanh Hóa, nhất là Nghệ Tĩnh Bình, thì nên bám chặt lấy họ mà ghi chép ngôn ngữ. Họ gần với tổ tiên Giao của ta, và cũng gần các người Mon Khmer hơn là ta. Thêm vào đó, có một số dạng chữ Nôm xưa cũng chứng tỏ được những nhóm phụ âm “mở đầu” mà người Việt Hoa Nam xưa cũng như người Tàu không hề có…”

Nhà văn Bình Nguyên Lộc:
“Tôi rất vui mừng gặp bạn đồng hành trên một nẻo đường vắng vẻ … Từ đây có cần được ai góp ý, chắc tôi chỉ còn biết thỉnh ý của bác sĩ thôi.”

Bác sĩ Nguyễn Huy Hùng, nhà nghiên cứu các văn bản Nôm:
“Tôi xem rất kỹ tài liệu anh gửi cho tôi …Việc in cuốn sách này rất cần thiết, vì đó là một công trình nghiên cứu rất quý báu … Tôi nghĩ rằng khi sách in xong có thể sẽ giúp giải thích được những câu tối nghĩa trong cổ văn Việt, giúp đọc chính xác hơn các bản văn Nôm cổ…Thực là một đóng góp vĩ đại cho văn học nước nhà.” 

Từ Điển Nguồn Gốc Tiếng Việt là một tác phầm “có tầm vóc,”gồm ba tập, tổng cộng 2230 trang. Từ điển được biên soạn thật kỹ lưỡng, bằng tâm huyết, với nhiều kiên nhẫn và công phu. Tác giả đã giải thích một cách tỉ mỉ về ý nghĩa, nguồn gốc của 12,942 từ đơn trong Việt ngữ, cùng mối liên quan với nhiều ngôn ngữ anh em, bà con khác như các tiếng Thái, Lào, Môn, Khmer, Chăm, Mã Lai … Trong sách có trên 250 ngàn đơn vị đồng nguyên của 56 ngôn ngữ và thổ âm khác nhau của Đông Nam Á. Rất tin tưởng bộ từ điển sẽ giúp một cách hiệu quả trong việc giải tỏa mối hiểu lầm tai hại nơi nhiều người cho tới nay, “tiếng Việt phát xuất từ tiếng Tàu.”

Bộ từ điển này được sự bảo trợ danh dự của Đại thư viện Quốc gia Pháp ở Paris (Bibliothèque nationale de France). Bộ sách sẽ được giới thiệu trước độc giả và học giới Việt lần đầu tiên lúc 2 giờ chiều ngày Thứ Bảy, 31 tháng 5 năm 2014 tại Hội trường Trung tâm Công giáo Việt Nam tại Orange County, 1538 Century Blvd, Santa Ana, CA 92703.

Muốn có bộ sách, độc giả ở xa xin liên lạc về:
Email: rumthuan3235@gmail.com
neoduongtiengviet@cox.net
Địa chỉ: P.O. Box 61825
Irvine, CA 92602
Điện thoại: (714) 573-8296; (714) 653-5246; (714) 389-6049.

Cám ơn DĐTK đã có lời giới thiệu để độc giả biết đến một bộ từ điển hữu ích. 

Trước đây, chúng ta ít nhiều nghe nói rằng một số lượng lớn tiếng Việt có gốc từ tiếng Mường, Chàm, Lào, Kampuchia, Thái, Mã Lai... nhưng tìm một nguồn tra cứu đầy đủ thì không có. Bộ từ điển đồ sộ của Bs Nguyễn Hy Vọng đã đáp ứng được nhu cầu đó. 

Lời giới thiệu đồng thời lại chỉ ra rõ ràng rằng tiếng Việt của chúng ta không phải bắt nguồn từ tiếng Tàu. Chúng ta chỉ mượn một số tiếng Tàu nhưng phát âm theo giọng Việt để bổ sung và làm phong phú cho tiếng Việt. Tàu và Việt thuộc hai ngữ tộc khác hẳn nhau và người Việt cũng không phải là người Tàu ở trung nguyên lưu lạc, di cư xuống miền Nam hồi mấy ngàn năm trước. Sự minh định này rất cần thiết trong thời điểm hiện nay để góp thêm sức mạnh tinh thần và lòng ái quốc của toàn dân Việt chống lại bọn bành trướng xâm lược Trung Cộng đang lấn biển lấn đất, hăm he đưa nước ta trở lại thời Bắc thuộc, nô lệ cho Tàu.

Read more…

Lời mẹ dặn - Bài thơ nổi tiếng của Phùng Quán

12:28 AM |


2013/04/12




Yêu ai thì bảo là yêu
Ghét ai thì bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không đổi yêu thành ghét
Dù ai cầm dao dọa giết

Cũng không đổi ghét thành yêu

Tôi nguyện làm một người
Đi rêu rao sự thật
Tôi nguyện làm người cô đơn
Bên cạnh cuộc đời gian trá
Đường mật công danh
Không làm tôi ngọt lưỡi
Sấm vang trên đầu
Không xô ngã được tôi
Giấy bút của tôi
Ai cướp giật đi
Tôi sẽ dùng dao
Viết văn trên đá ….




















Trọn bài "Lời mẹ dặn"

Tôi mồ côi cha năm hai tuổi
Mẹ tôi thương con không lấy chồng
Trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải
Nuôi tôi đến ngày lớn khôn,

Hai mươi năm qua tôi vẫn nhớ
Ngày ấy tôi mới lên năm
Có lần tôi nói dối mẹ
Hôm sau tưởng phải ăn đòn,
Nhưng không, mẹ tôi chỉ buồn
Ôm tôi hôn lên mái tóc
- Con ơi –
trước khi nhắm mắt
Cha con dặn con suốt đời
Phải làm một người chân thật.

- Mẹ ơi, chân thật là gì?
Mẹ tôi hôn lên đôi mắt
- Con ơi một người chân thật
Thấy vui muốn cười cứ cười
Thấy buồn muốn khóc cứ khóc.

Yêu ai cứ bảo là yeu
Ghét ai cứ bảo là ghét.
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét.
Dù ai cầm dao doạ giết
Cũng không nói ghét thành yêu.

Từ đấy người lớn hỏi tôi:
- Bé ơi, bé yêu ai nhất?
Nhớ lời mẹ tôi trả lời:
- Bé yêu những người chân thật.

Người lớn nhìn tôi không tin
Cho tôi là con vẹt nhỏ
Nhưng không! Những lời dặn đó
In vào trí óc của tôi
Như trang giấy trắng tuyệt vời,
In lên vết son đỏ chói.

Năm nay tôi hai mươi lăm tuổi
Đứa bé mồ côi thành nhà văn
Nhưng lời mẹ dặn thủa lên năm
Vẫn nguyên vẹn màu son chói đó.

Người làm xiếc đi dây rất khó
Nhưng chưa khó bằng làm nhà văn
Đi trọn đời trên con đường chân thật.

Yêu ai cứ bảo là yeu
Ghét ai cứ bảo là ghét.
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét.
Dù ai cầm dao doạ giết
Cũng không nói ghét thành yêu.

Tôi muốn làm nhà văn chân thật
Chân thật chọn đời
Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi
Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã
Bút giấy tôi ai cướp giật đi
Tôi sẽ dùng dao viết văn trên đá.

1957
Thơ: PHÙNG QUÁN
Nhạc: HOÀNG THANH TÂM
Trình bày: DIỄM CHI
http://hoangthanhtam.co.cc




Phùng Quán sinh tháng 1 năm 1932, tại xã Thủy Dương, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Năm 1945, ông tham gia Vệ quốc quân, sau đó ông tham gia Thiếu sinh quân Liên khu IV, đoàn Văn công Liên khu IV. Đầu năm 1954, ông làm việc tại Cơ quan sinh hoạt Văn nghệ quân đội thuộc Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân Việt nam.
Tác phẩm đầu tay Vượt Côn Đảo của ông được giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1955. Không lâu sau đó, Phùng Quán tham gia phong trào Nhân Văn Giai Phẩm. Khi phong trào này bị đàn áp Phùng Quán bị kỷ luật, mất đi tư cách hội viên Hội Nhà văn Việt Nam và phải đi lao động cải tạo ở nhiều nơi.
Cho tới trước thời gian đổi mới không một tác phẩm nào của Phùng Quán được xuất bản. Mãi tới năm 1988, cuốn tiểu thuyết “Tuổi thơ dữ dội” của ông mới được xuất bản và nhận giải thưởng Văn học Thiếu nhi của Hội Nhà văn Việt Nam hai năm sau đó.
Phùng Quán không nổi tiếng từ các tác phẩm văn xuôi mà các bài thơ ông sáng tác trước đó mới thật sự đưa ông lên đỉnh vinh quang của sự nghiệp cầm bút. Thơ ông khắc khoải một niềm đau của người trí thức trước những nhố nhăng của chế độ. Từ tham nhũng tiền bạc đến tham nhũng vị trí quyền lực. Từ ăn cắp, đến giết người nhằm củng cố chiếc ghế và quyền uy. Phùng Quán lên tiếng mạnh mẽ bằng những lời thơ đầy huyết lệ.
Thơ Phùng Quán không làm dáng. Ông viết trực diện, khoét sâu, đập mạnh, và vỗ mặt những vấn đề xã hội đang rên xiết. Ông tuyên chiến với hệ thống văn tự nhà nước khi người cầm cương văn hóa hèn nhát lại cố hết sức thúc ép người khác hèn theo. Sự kiện Nhân Văn Giai Phẩm làm ông nổi tiếng và cũng làm ông kiệt sức. Có điều là, sức càng yếu ông làm thơ càng mạnh. Hình như thơ là liều thuốc duy nhất nuôi dưỡng ông trong cái không khí đậm đặc khủng hoảng niềm tin trong giới văn nghệ sĩ miền Bắc. Phùng Quán viết những bài thơ hoen đẫm mồ hôi của cật lực và mặn chát nước mắt uất ức của kẻ sĩ Bắc Hà.

Thơ Phùng Quán nếu được đọc trong không khí yên ắng của một ban mai êm đềm sẽ bật ra nhiều điều mà khi ồn ào người đọc khó nhận ra. Những mượt mà thi ca ẩn dấu phía sau cái trần trụi khô khốc của ngôn ngữ. Đôi khi Phùng Quán tin tưởng một cách thực thà vào người nữ. Một cách nào đó, ông ôm ấp niềm tin cuối cùng vào người mà ông gọi là “em” người xứng đáng được ông cậy trông vẫn chỉ là “em”, tiếng em muôn thuở của thi ca:

Tôi ngã nhào trước ngõ nhà em
Ngã chúi mặt…
Miệng môi tôi đầy cát!
Nhưng tôi không buồn rửa mặt
Tôi muốn đi thẳng vào nhà em
Như bao nhiêu lần khác
Ngồi xuống và tôi đọc câu thơ
Câu đầu tiên
Cũng là câu cuối cùng
Tôi đã bị dối lừa…
Ông tái tê thú nhận mình bị lừa trong cái đêm trăng xanh xao đầy thơ mà ông được nàng thủ thỉ như một bức tranh thời Phục Hưng. Đẹp mờ ảo trong bối cảnh hoàng cung mộng mị. Phùng Quán viết về một sự lừa mị điếng người đến khi quay lại với thực tế thì ông phát hiện ra rằng việc lừa dối này xảy ra hàng ngày trên cái hoàng cung mà ông trọng vọng thiết tha.

… Em dắt tôi đi
Trên con đường lát những phiến trăng xanh
Ôi những phiến trăng có mùi hoa sứ
Em nói với tôi
Đây là con đường Trung lộ
Xưa chỉ có vua đi
Và đêm nay anh đi…
Trong khoảnh khắc ấy
Tôi bỗng thèm tự sát
Để vĩnh viễn
Thành Thơ
Thành Đá
Thành Trăng
………
Ôi, còn có nỗi thống khổ nào hơn
Tình cờ tôi chợt hiểu
Một tháng có nhiều đêm trăng
Và thời buổi ngày nay
Vào Hoàng Cung là chuyện quá dễ dàng
Cả con bò con heo cũng đi trên Trung lộ…
Những gì em nói với tôi hôm đó
Em đã nói với nhiều người…
Ôi, những câu thơ này nó vượt quá sức tôi
Tôi không thể cất lên được thành lời
Nếu miệng môi tôi không đầy cát
Nhưng tôi vẫn không vào nhà em
Tôi quay về
Tôi khóc
Tôi khóc niềm tin yêu nát tan
Tôi khóc ngai vàng mộng tưởng
Tôi khóc Trăng-Hoàng-Cung bị lấm bẩn
Tôi khóc không biết lấy gì để gột sạch Trăng…

Bài thơ có tên “Tôi Khóc” trong thi tập “Trăng Hoàng Cung” mà chúng ta vừa nghe không mang phong cách của Phùng Quán. Bài thơ này biệt lập hẳn những gì mà người đọc thơ ông nhiều năm biết đến. Những giọt nước mắt của Phùng Quán sao mà thơ ngây đến vậy, nó khiến người đọc thơ ông cảm hoài và xao xuyến với ông trong nỗi mất mát niềm tin, niềm tin của một thi nhân yêu đến đớn đau cái đẹp nay đã thành cổ tích.
Thế nhưng Phùng Quán không phải lúc nào cũng dễ khóc như thế! Ông chỉ khóc khi cái đẹp bị đánh cắp, còn những cái khác mà ông bị cướp thì ông phản ứng lại khác hơn nhiều.
Cuộc đời ông là một sâu chuỗi đau đớn từ thể xác tới tâm hồn. Ông bị trù dập, bị khinh bỉ, bị xua đuổi khỏi cuộc sống. Đối với nhà nước ông bị liệt vào thành phần phản động, khó thể dung tha. Đối với thơ văn ông bị tẩy chay không được in ấn. Thế mà ông vẫn kiên cường ưỡn ngực trước mọi thế lực. Một mình, một bài thơ, để rồi trở thành một biểu tượng. Bài thơ tiêu biểu của ông mang tựa “Lời mẹ dặn” nay đã trở thành bất hủ.

Lời mẹ dặn

Tôi mồ côi cha năm hai tuổi
Mẹ tôi thương con không lấy chồng
Trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải
Nuôi tôi đến ngày lớn khôn.
Hai mươi năm qua tôi vẫn nhớ
Ngày ấy tôi mới lên năm
Có lần tôi nói dối mẹ
Hôm sau tưởng phải ăn đòn.
Nhưng không, mẹ tôi chỉ buồn
Ôm tôi hôn lên mái tóc
- Con ơi
trước khi nhắm mắt
Cha con dặn con suốt đời
Phải làm một người chân thật.


- Mẹ ơi, chân thật là gì?
Mẹ tôi hôn lên đôi mắt
Con ơi một người chân thật
Thấy vui muốn cười cứ cười
Thấy buồn muốn khóc là khóc.
Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét.
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêu
………
Năm nay tôi hai mươi lăm tuổi
Đứa bé mồ côi thành nhà văn
Nhưng lời mẹ dặn thuở lên năm
Vẫn nguyên vẹn màu son chói đỏ.
Người làm xiếc đi dây rất khó
Nhưng chưa khó bằng làm nhà văn
Đi trọn đời trên con đường chân thật.
Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêu
Tôi muốn làm nhà văn chân thật
chân thật trọn đời
Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi
Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã
Bút giấy tôi ai cướp giật đi
Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá.

Những câu này trực tiếp nhắm vào Hồ Chí Minh và nhắm vào giáo dục miền Bắc tức là không ai yêu Hồ Chí Minh cả nhưng mà từ nhỏ tới lớn mọi người được dạy là ai yêu bác Hồ Chí Minh hơn chúng em nhi đồng? 
Dịch giả Nguyễn Hữu Hiệu
Hình ảnh dùng dao viết văn lên đá mà Phùng Quán đưa ra thật bi tráng, đẹp và gân guốc đến rợn người.
Rất nhiều người cảm nhận bài thơ này qua cách nghĩ: Phùng Quán tha thiết đến sự thẳng thắn trong mọi tình huống giữa cuộc đời này. Thế nhưng đối với dịch giả Nguyễn Hữu Hiệu thì bài thơ mang đậm tính phản kháng, trực tiếp chạm đến một nhân vật mà ai cũng biết, đó là chủ tịch Hồ Chí Minh, ông nhận xét:
"Bài Lời Mẹ Dặn nó có một ý nghĩa lớn. Đối với Phùng Quán, với tôi và rất nhiều người bởi vì bài thơ ấy ông viết năm 25 tuổi thôi nhưng anh đã nói những điều đại kỵ đối với miền Bắc trong ấy có bốn câu “Yêu ai cứ bảo là yêu ghét ai cứ bảo là ghét. Dù ai ngon ngọt nuông chiều cũng không nói yêu thành ghét. Dù ai cầm dao dọa giết cũng không nói ghét thành yêu”.
Những câu này trực tiếp nhắm vào Hồ Chí Minh và nhắm vào giáo dục miền Bắc tức là không ai yêu Hồ Chí Minh cả nhưng mà từ nhỏ tới lớn mọi người được dạy là ai yêu bác Hồ Chí Minh hơn chúng em nhi đồng? Cái câu của Phùng Quán bảo “Yêu ai cứ bảo là yêu ghét ai cứ bảo là ghét là câu chạm nọc họ kinh khủng lắm.
Cho nên đến năm 1995 thì họ muốn xoa dịu những người trong Nhân Văn Giai Phẩm, họ hứa in cho mỗi người một tập thơ và 5 triệu tiền nhuận bút thế nhưng họ bảo với Phùng Quán là phải bỏ bài thơ “Lời Mẹ Dặn” ra, Phùng Quán nhất định không chịu và sau khi ông chết họ mới chịu in cho ông tập thơ này."
Bài thơ mang tên “Tôi chỉ viết trên giấy có kẻ giòng” là một tuyệt tác khác của ông. Khái niệm ngay thẳng được ông áp dụng trên từng trang giấy. Thẳng và sạch trước khi nói đến chuyện viết từng con chữ xuống trang giấy trắng tinh. Giấy kẻ giòng là một cách nói nhưng ông thuyết phục được người đọc về thái độ nghiêm cẩn gìn giữ những điều mà ông cho là chân lý đối với một nhà văn, nhất là nhà văn trong thời đại đầy hàng giả, chỉ sống còn khi biết tâng bốc và cúi đầu.

Tôi chỉ viết trên giấy có kẻ giòng

Là nhà văn
Tôi đã viết suốt ba mươi năm
Là chiến sĩ
Tôi là xạ thủ cấp kiện tướng trung đoàn
Tôi có thể viết như bắn
Trên giấy không kẻ giòng
Nhưng tôi vẫn viết trên giấy có kẻ giòng
Như cái thưở vỡ lòng tập viết
Với nhiều người
Giấy không kẻ giòng dễ viết đẹp
Nhưng với tôi
Không có gì đẹp hơn
Viết ngay và viết thẳng.
Là nhà văn
Tôi yêu tha thiết
Sự ngay thẳng tột cùng
Ngay thẳng thủy chung
Của mỗi giòng chữ viết.
Nhưng là nhà văn và xạ thủ
Tôi biết
Khó vô cùng bắn trăm phát trúng cả trăm
Và càng khó hơn
Viết trọn một đời văn
Giòng đầu thẳng ngay như giòng cuối
Khi bàn tay đã đuối
Khi tấm lòng đã mỏi
Khi con mắt bớt trong
Khi dũng khí đã nguội 

Phùng Quán cũng nổi tiếng với bài “Chống tham ô lãng phí” bài thơ được đọc lại vào đầu năm 2011 sao mà cứ tưởng tác giả vừa mới sáng tác hôm qua!

Chống tham ô lãng phí

Tôi đã đi qua
Những xóm làng chiến tranh vừa chấm dứt
Tôi đã gặp
Những bà mẹ quấn giẻ rách
Da đen như củi cháy giữa rừng
Kéo dây thép gai tay máu ròng ròng
Bới đồn giặc, trồng ngô trỉa lúa…
……..
Như công nhân
Tôi quyết đúc thơ thành đạn
Bắn vào tim những kẻ làm càn
Vào lũ người tiêu máu của dân
Như tiêu giấy bạc giả!
Các đồng chí ơi
Tôi không nói quá
Về Nam Định mà xem
“Đài xem lễ” họ cao hứng dựng lên
Nửa chừng bỏ dở
Mười một triệu đồng dầm mưa giãi gió
Mồ hôi máu đỏ mốc rêu
Những con chó sói quan liêu
Nhe răng cắn rứt thịt da cách mạng!
Nghe gió mùa đông thâu đêm suốt sáng
Nhớ “Đài xem lễ” tôi xót bao nhiêu
Đất nước đêm nay không đếm hết người nghèo
Thiếu cơm thiếu áo 

Phùng Quán lúc ấy rất lo âu nói với tôi rằng làm thế nào một nhà thơ lại có cùng tiếng nói với công an được?
Dịch giả Nguyễn Hữu Hiệu
Dịch giả Nguyễn Hữu Hiệu nguyên trưởng ban tu thư Đại học Vạn Hạnh đã có duyên với nhà thơ Phùng Quán từ trước năm 1975 khi những tác phẩm dịch từ tác giả Boris Pasternak của ông được in ra và Phùng Quán biết đến từ khi còn ở miền Bắc. Sau đó Phùng Quán vào Nam tìm ông nhưng ông đã sang Mỹ. Năm 1992 và 1995 hai người gặp nhau tại Hà Nội do thư từ liên lạc. Dịch giả Nguyễn Hữu Hiệu kể lần gặp mặt sau cùng này:
"Ngày mùng 9 tháng 1 năm 1995, cái ngày tôi đi hôm trước đó tức là ngày mùng 8 tháng 1 tôi có làm photo copy những bài thơ mới của Phùng Quán. Khi đi qua đường thì anh ấy dừng lại giữa đường và anh ấy nhìn xuống Hồ Tây thố lộ với tôi một điều mà tôi rất kinh hoàng, tuy nhiên ngược lại cũng rất là mừng khi anh ấy mất.
Điều anh nói như thế này: Anh ấy có một thằng con tên là Phùng Quân nó nghiện ngập và dính líu vào một vụ án mạng. Công an họ bắt và ngay trước Tết thì họ thả ra cho nó ăn Tết nhưng họ gọi Phùng Quán lên giao, Ông cục trưởng công an là tướng Phạm Chuyên gặp Phùng Quán và nói rằng sau khi con của Phùng Quán về nhà ăn Tết sẽ gặp lại nhà thơ sau Tết và mong rằng lúc đó nhà thơ và công an sẽ nói chung một tiếng nói! Phùng Quán lúc ấy rất lo âu nói với tôi rằng làm thế nào một nhà thơ lại có cùng tiếng nói với công an được?
Sau khi tôi đi có mấy ngày thì Phùng Quán mất, ngày 21 tháng 1 năm 1995 anh ấy mất. Mặc dù rất là buồn nhưng tôi cũng rất mừng vì anh ấy thoát nạn đối phó với công an."
……

Theo RFA
Read more…

Mẫu tử tình thâm

12:18 AM |


2012/06/01

Bài hát ru con của người Hòa Ninh

Mẫu tử tình thâm
công thầy nghĩa mẹ
đừng tiếng tăm nặng lời
đừng lớn tiếng cả hơi
cải mẹ thầy sao nên
cải mẹ thầy sao phải?

Thế tình ai nấy
thương lấy cội thung huyên. (1)
Công cù lao ai đền
nghĩa sinh thành ai trả.

Khi nhai cơm trún nước
đường mẫu tử tình thâm
thầy đói rách nợ nần
mẹ đói rách nợ nần
cũng vì con thơ ấu.

Mẫu tử chi mẫu
đường tác hữu vô thân
ở có thủy có chung
được mẫu từ tử hiếu.

Công mẹ thầy định liệu
đường cúc dục trưởng thành
con lên một lên hai
thầy ấp yêu bồng bế
mẹ ấp yêu bồng bế.

Con lên ba lên bốn
con bú mớm chẳng rời
sáu bảy tuổi nhởn chơi
chín mười con khun nậy. (2)

Con khun con nậy
thầy cũng chưa được cậy
mẹ râng (3) đáng phải lo
của thầy mẹ sắm cho
đứa sắm khăn sắm yếm
đứa sắm quần sắm áo.

Lên mười lăm mười tám
con ăn học dồi mài
sang hâm mốt hâm hai
lo gia thất chồng vợ
lo cựa nhà nội trợ.

Chốn hoa đào rực rỡ
thầy tưởng sự đêm ngày
mẹ tưởng sự đêm ngày
được dâu hiền rể thảo.

Sách thánh hiền là đạo
nào đại xá từ bi
con lỗi lầm điều xi
xin mẹ thầy xá quá.

Trong sách có kể
chữ bất khả luận tài
dặn anh cả chị hai
nay dù phận thất gia
vẫn thương chút mẹ cha
cùng thương đàn em út.

Thương đàn em út
phải nhắc nhở phen đòi
rứa mới được hẳn hoi
để truyền tôn kế tử

Đôi ba ngành thục nữ
sáu bảy kẻ nam nhi
thầy nỏ được nhờ xi
mẹ nỏ được nhờ xi
trả công ơn cho đáng.

Khi mẹ thầy định soạn
xin ai nấy xen vào
thầy mẹ tuổi tác cao
đừng tiếng tăm nặng nhẹ
đừng bấc chì nặng nhẹ.

Con ở gần thầy mẹ
phải xây đắp vun trồng
vợ dại đã có chồng
phải vào ra thăm viếng
năng đi về thăm viếng.

Khi đồng hàng quà bánh
khi bún sốt lòng tươi
phải chăm sóc lấy người
kẻo sau người bách tuế.

Mai sau người bách tuế
là cây cổi là vàng
lá rụng về đại ngàn
người còn đâu mà tìm
còn tìm mà răng được?

Khi trà dâng rượu rót
khi lệ nhỏ gối quỳ
thầy nỏ ăn được xi
mẹ cũng nỏ ăn xi
thấy những ruồi với kiến.

Khi hương hoa tưởng niệm
thầy không đoái không hoài
mẹ cũng chẳng đoái hoài
ai sống được không sai
được mẫu từ tử hiếu.


Chú thích:

1/ Thung huyên = cha mẹ.
2/ Khun nậy = khôn lớn.
3/ râng = còn
Read more…

Tiếng Việt ngày nay

10:25 PM |
Tiếng Việt ngày nay
 Văn Lang
Ngi nói chuyn vnhau, my anh bn ca tôi bo sao trong tiếng Vit bây gi có nhiu cái l lùng, không hiu đưc.  Nhiu ch thì nhp vô nguyên văn ca tiếng Tàu dù trưc đây Vit Nam đã có sn:  nào là “tiu phu”, “đi tu”, “h khu”; nào là “đi gia”, “nhp khu”, vv...   Tiêu biu hơn c là my ch “h quyết tâm”.  “Cương quyết” thì không nói, mà đng vào cái gì cũng “h quyết tâm”.  Ri còn có nn ghép ch mt cách cu th, rt dao to búa ln như “gii phóng mt bng” , “khng chếtc đ”,  “x lý ht ging”, “lý gii vn đ”, “phn đu ci thin cht lưng ba ăn”...  Đó là chưa k nhng hiu sai haydùng sai, như “thp niên” thì viết là “thp k”, hoc dùng ch “k n” đ ch mt ph n có tài (k năng) trong khi xưa nay qung đi qun chúng đã biết thế nào là mt k n:
Li k n đã v vì nưc mt
Cu
c yêu đương
 gay gt v làng chơi  [Xuân Diu]
Dĩ nhiên sau mt lúc b ng thì mi ngưi cũng hiu đưc nhng t ng đó bây gi đang có nghĩa như thế nào.  Khong 5-7 năm tr li đây trong hu hết báo chí trong c  nưc li hay viết tt v thì gi mt cách khá l lùng;  ví d “ba gi rưi” thì viết là “3h30” mà không viết là “3g30”.
Ban đu, tôi c ng là h viếtheo tiếng Pháp (dùng ch heure), nhưng nghĩ li, tiếng Pháp đã đon tuyt vi sinh hot hng ngày ca Vit Nam t lâu lm ri, làm sao có th có “tàn dư đế quc” nm li lâu đi đến thế?  Phi lâu lm tôi mi đoán đưc đây có l là do các v làm vic truyn thông và văn hoá lưi biếng, thy ngưi nào đó dùng trưc nên nhm mt đi theo mà không suy nghĩ gì.  Cũng có th đoán đưc là trong tiếng Anh “ba tiếng rưi đng h” thì viết ngn là “3h30” -- và có ngưi Vit nào đó đã hiu ch h (hour) là “gi .  Ngưi đó không phân bit đưc “ba gi” (ví d “ba gi chiu”) và “ba tiếng đng h” khác nhau ra sao (hoc có hiu mà lưi!) cho nên “ba gi rưi” thì viết là “3h30” (cho nó “sang”?).
Ti đây thì mt anh bn góp ý:
Đng ý là my ông nói đúng, nhưng cũng nên nghĩ thế này.  T 1950 cho đến ít nht là khong 1965-1970, Vit Nam (Hà Ni) là đp tư tưng “vô sn” kiu Mao Trch Đông; nghĩa là anh phi có gc gác bn c nông 3-4 đi, như thếmi “tt” và “ct cán” đ đưc tin cy, hay trng dng.  My ngưi này tuy đưc làm xếp tuy trong bng ch nghĩa không có bao nhiêu.   My ông có đi làm lâu năm thì biết, có thng nào ngu đến đ công khai “sa lưng” xếp ca mình hay chê xếp là ngu hơn mình, là kém văn hoá?  Thành ra dù có thy nga tai gai mt đi na cũng đành mũ ni che tai, “cthế mà làm” cho nó bình yên, nuôi con ăn hc …
C đám gt gù, nhìn nhau ...  Rt lâu sau đó, mt anh bn khác phá tan s im lng:
Văn hoá là mt cái gì phn ánh cuc sng con ngưi.  Bên trong ca anh ra sao thì bên ngoài nó hin ra như thế!  Cxem giao thông  Sài Gòn hay Hà Ni thì biết; thành ph quá đông đúc là mt chuyn, nhưng cái chính là gì, có phi là  thái đ (và trình đ) ca con ngưi khi lưu thông không?
Trong cái thi thế ca bây gi thì văn hoá cũng đành “thế thi phi thế” mà thôi. Nếu cuc sng không đưc tt hơn thì nhng cái lung tung, cu th ... như đã nói có th còn nhiu hơn và t hơn là đng khác.
Văn hoá, nó sinh sau đ mun, nghĩa là đến sau khi cuc sng và cách sng đã đưc xác đnh.  Nó như mt cô con gái rt nh sinh sau trong mt gia đình ln.  Gia đình bt nó ra sao thì nó đành phi thế, ngây thơ bé bng, ngay khi 14-15 tui có bt đi qua giang h bên Cam Pu Chia đi na thì nó nào biết làm sao?  Làm sao nó biết t than th như kiu:
Xưa sao phong gm r là,
Gi
 sao tan tác như hoa gia đưng
 ... ?

Văn Lang (10-04-2013)

Read more…

AI Video maker

pictory

Code type Ad code