TS. NGUYỄN HỒNG KIÊN: TÔI VẪN PHẢN ĐỐI CHUYỆN BẮT GIỮ PHƯƠNG UYÊN

11:30 PM |
TS. NGUYỄN HỒNG KIÊN: TÔI VẪN PHẢN ĐỐI CHUYỆN BẮT GIỮ PHƯƠNG UYÊN

TS.Nguyễn Hồng Kiên: 

NHÀ CHÁU VẪN PHẢN ĐỐI CHUYỆN BẮT GIỮ PHƯƠNG UYÊN

CÁM ƠN BÁO TIN TỨC-TTXVN ĐÃ CUNG CẤP SỰ THẬT !

Hôm Chủ nhật 04/11, nhà cháu ĐỌC nhiều thông tin mâu thuẫn trên các báo có môn bài nên đã nêu 03 câu hỏi https://www.facebook.com/photo.php?fbid=327559610684987&set=pb.100002928529778.-2207520000.1352295174&type=3&theater

Hôm nay, thứ Tư 07/11/2012, lúc 18g08, báo điện tử Tin Tức - Thông tấn xã Việt Nam đưa lên mạng bài “Sự thật về vụ sinh viên Nguy
ễn Phương Uyên” của tác giả Hoàng Hà.
"Trong những ngày qua, trên các trang mạng và báo nước ngoài rộ lên thông tin xuyên tạc vụ việc Nguyễn Phương Uyên, sinh viên trường Đại học Công nghiệp thực phẩm TP Hồ Chí Minh, là cán bộ Đoàn trường, phát thanh viên nhà trường, đã tham gia hoạt động chống đối Trung Quốc, bị lực lượng an ninh bắt giữ. Đồng thời, 109 sinh viên của trường này đã đồng ký đơn gửi lên Chủ tịch nước đòi trả tự do cho Phương Uyên.
Vậy sự thật về vụ việc này như thế nào? "
(http://baotintuc.vn/475N20121107175947895T0/su-that-ve-vu-sinh-vien-nguyen-phuong-uyen.htm)

ĐỌC NHỮNG SỰ THẬT MỚI CỦA BÁO TIN TỨC- TTXVN, NHÀ CHÁU “SÁNG” HẲN ĐƯỢC 02 VẤN ĐỀ CỰC KỲ QUAN TRỌNG:

1- VỀ SỐ LƯỢNG TRUYỀN ĐƠN + CỜ ĐƯỢC PHÁT TÁN VÀO THỜI ĐIỂM 7 GIỜ 15 NGÀY 10/10/2012
- THEO VOV:
”Trước đó, 7h15’ ngày 10/10/2012, Công an TP HCM PHÁT HIỆN HÀNG NGÀN TỜ TRUYỀN ĐƠN và cờ 3 sọc của chế độ cũ phát tán tại khu vực cầu vượt Quang Trung, TP HCM.” (http://vov.vn/Phap-luat/Bat-hai-doi-tuong-rai-truyen-don-chong-pha-Nha-nuoc/232669.vov)
- THEO BÁO PL.TPHCM:
” cơ quan điều tra cho hay, Kha và Uyên giả làm cặp tình nhân MANG THÙNG ĐỰNG HƠN 2.000 TỜ TRUYỀN ĐƠN dán kèm tiền 5.000 - 20.000 cùng cờ của chế độ cũ ra treo ở Cầu Vượt An Sương. Đến 7h15, chiếc THÙNG TỰ MỞ LÀM SỐ TRUYỀN ĐƠN RƠI XUỐNG ĐƯỜNG.” (http://www.phapluatvn.vn/phapluat/201211/Nu-sinh-vien-bi-dieu-tra-toi-chong-nha-nuoc-2072361/)
- THEO Viẹtnam+
“Uyên và Kha đóng giá là đôi tình nhân, từ Long An chở một thùng cạc tông chứa 2.000 tờ truyền đơn phản động và cờ ba sọc từ Long An đến Cầu vượt An Sương , TP Hồ Chí Minh, cài điện thoại hẹn giờ để đến 7 giờ 15 phút truyền đơn đã được rải xuống đường dưới cầu” (http://www.vietnamplus.vn/Home/Khoi-to-2-doi-tuong-tuyen-truyen-chong-Nha-nuoc/201211/166877.vnplus)
(NHƯ CÁCH VIẾT CỦA PL TPHCM VÀ VIETNAM+ THÌ CẢ 2000 TỜ ĐÃ ĐƯỢC TÁN PHÁT.)
- LÚC 3:02 PM, 03/11/2012 VGP New VIẾT: “Sáng 10/10/2012, Công an TP HCM phát hiện NHIỀU TRUYỀN ĐƠN và cờ 3 sọc của chế độ cũ phát tán tại khu vực cầu vượt An Sương, TP HCM. (http://baodientu.chinhphu.vn/Home/Tuyen-truyen-chong-Nha-nuoc-2-doi-tuong-bi-khoi-to-bat-tam-giam/201211/153359.vgp

- BÁO TIN TỨC CHO SỰ THẬT:
“Theo Thượng tá Lê Hồng Hà, Phó thủ trưởng Cơ quan an ninh điều tra TP.Hồ Chí Minh, trước đó vào hồi 7 giờ 15 phút ngày 10/10/2012, một cán bộ công an của Quận 10 đã phát hiện dưới cầu vượt An Sương (TP. Hồ Chí Minh) CÓ MỘT SỐ TRUYỀN ĐƠN mang tên của tổ chức phản động “Tuổi trẻ yêu nước”.”
KHÔNG CÓ CỜ QUẠT NÀO SẤT CẢ !

Note 01:
Ơ, NHƯNG NẾU “O1 cán bộ công an của Quận 10” KHÔNG TÌNH CỜ ĐI NGANG ĐỊA BÀN QUẬN 12 THÌ SỰ VIỆC… CHẢ AI BIẾT ĐẾN ĐÂU NHẺ.

Note 02:
CHỈ HƠI ĐÁNG TIẾC, LÀ VỚI SỰ THẬT MỚI CỦA “TIN TỨC” THÌ… GS NGÔ BẢO CHÂU CŨNG KHÔNG TÍNH RA SỐ TỜ TRUYỀN ĐƠN CÓ DÁN TIỀN
- VOV CHO BIẾT: "Uyên còn nhận 2,5 triệu đồng đề đổi ra tiền mệnh giá nhỏ, dán vào các tờ truyền đơn này để thu hút sự chú ý của người đi đường." (http://vov.vn/Phap-luat/Bat-hai-doi-tuong-rai-truyen-don-chong-pha-Nha-nuoc/232669.vov)
NHÀ CHÁU ĐÃ THỬ TÍNH:
+ NẾU DÁN TOÀN TIỀN MỆNH GIÁ NHỎ NHẤT (5.000VNĐ) VÀO TRUYỀN ĐƠN, THÌ 2.500.000Đ CHỈ ĐƯỢC 500 TỜ.
+ CÒN THEO BÁO PL.TPHCM "Ngày 8-10, Uyên giao Kha số tiền đổi được (khoảng 1,6 triệu đồng)" THÌ CHỈ ĐƯỢC 320 TỜ.
- LÚC 13:33:00 NGÀY 03/11/2012, Vietnam + CHO BIẾT: "CÁC TỜ TRUYỀN ĐƠN ĐƯỢC DÁN VỚI MỘT TỜ TIỀN VIỆT NAM với mệnh giá 5.000 đ, 10.000 đ và 20.000 đồng." (http://www.vietnamplus.vn/Home/Khoi-to-2-doi-tuong-tuyen-truyen-chong-Nha-nuoc/201211/166877.vnplus)
- BÁO TIN TỨC KHẲNG ĐỊNH CHI TIẾT HƠN:
”Để việc tán phát truyền đơn có hiệu quả, có nhiều người nhặt truyền đơn, KHA Đà GIAO CHO UYÊN 2,5 TRIỆU ĐỒNG ĐỂ UYÊN ĐỔI TIỀN có nhiều mệnh giá khác nhau, RỒI KHA DÁN VÀO MẶT SAU CỦA HƠN 2.OOO TỜ TRUYỀN ĐƠN, MỖI TỜ MỘT TỜ TIỀN VIỆT NAM CÓ MỆNH GIÁ 20.000Đ, 10.000Đ HOẶC 5.000Đ”

2- TUY NHIÊN, ĐIỀU ĐẶC BIỆT LÀ BÁO TIN TỨC ĐÃ CHO SỰ THẬT MỚI VỀ NHÂN THÂN NGUYỄN PHƯƠNG UYÊN:
- CÁC BÁO ĐÃ KỂ TRÊN CHỈ CHO THÔNG TIN NGUYỄN PHƯƠNG UYÊN LÀ SINH VIÊN (NĂM THỨ BA) CỦA ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM TP. HCM
- RIÊNG BÁO Nhân Dân Online (lúc 22:41, Thứ hai, 05/11/2012) CÓ BÀI Bình luận - phê phán: “ Suy ngẫm từ hành vi của công dân Nguyễn Phương Uyên” .
Bài viết có đoạn rất bi thiết:
“Ngắm tấm hình của Nguyễn Phương Uyên, không khỏi đắng lòng xót xa, nuối tiếc, không hiểu vì sao mà cô sinh viên năm thứ 3, hệ cao đẳng trường ÐH Công nghệ Thực phẩm TP Hồ Chí Minh, MỘT CÁN BỘ ĐOÀN NĂNG ĐỘNG, THÔNG MINH, TƯƠNG LAI NHIỀU HỨA HẸN, lại có thể bột phát manh động và do đó, gây nhiều hệ lụy cả cho bản thân mình, cũng như làm tổn thương lòng yêu nước - một giá trị vốn luôn là niềm tự hào và là sức mạnh tiềm tàng trong mỗi người dân Việt?
Không xót xa sao được, khi Nguyễn Phương Uyên lại ngây thơ tin vào lời dỗ ngon, dỗ ngọt của một kẻ mới chỉ quen biết qua in-tơ-nét, và để làm vừa lòng hắn với hy vọng sẽ nhận được laptop (máy tính xách tay - món quà tặng rất hấp dẫn đối với thanh niên mới lớn) và tiền thưởng, mà chỉ sau vài tháng Nguyễn Phương Uyên đã dễ dàng bị Nguyễn Thiện Thành chiêu dụ, gia nhập tổ chức "tuổi trẻ yêu nước". Ðể rồi sau đó có hành vi phản bội lại niềm tin và sự mến mộ của bạn bè, đồng chí, thậm chí phản bội lại chính lý tưởng của ÐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH MÀ CÔ LÀ MỘT THỦ LĨNH Ở CƠ SỞ...”

NHÀ CHÁU CŨNG ĐANG ‘SỐC’ TRƯỚC THÔNG TIN 1 ĐOÀN VIÊN ĐOÀN TNCS HCM LẠI CÓ THỂ NHẸ DẠ, DỄ DÀNG BỊ THẾ LỰC THÙ ĐỊCH MUA CHUỘC ĐẾN THẾ
- “Do trong thời gian đó tôi gặp khó khăn về mặt kinh tế, gia đình có nhiều chuyện xảy ra nên những việc làm này đều nhằm mục đích lấy lòng tên Thành để hắn cho máy laptop, điện thoại và hỗ trợ học…” (http://baotintuc.vn/475N20121107175947895T0/su-that-ve-vu-sinh-vien-nguyen-phuong-uyen.htm)
- “với hy vọng sẽ nhận được laptop (máy tính xách tay - món quà tặng rất hấp dẫn đối với thanh niên mới lớn) và tiền thưởng” (http://www.nhandan.com.vn/cmlink/nhandandientu/thoisu/chinh-tri/binh-luan-phe-phan/suy-ng-m-t-hanh-vi-c-a-cong-dan-nguy-n-ph-ng-uyen-1.375841)

MAY QUÁ, BÁO TIN TỨC ĐÃ CHO SỰ THẬT NGƯỢC HẲN VỚI BÁO Nhân Dân:
” THEO PHÒNG CÔNG TÁC CHÍNH TRỊ - HỌC SINH SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM, SINH VIÊN NGUYỄN PHƯƠNG UYÊN KHÔNG PHẢI LÀ CÁN BỘ ĐOÀN VÀ PHÁT THANH VIÊN NHƯ CÁC TRANG MẠNG VÀ BÁO NƯỚC NGOÀI ĐÃ ĐƯA. Hơn thế nữa, theo cơ quan chức năng, danh sách 109 sinh viên của trường này được cho là đã ký đơn gửi lên Chủ tịch nước nhưng mã số của mỗi sinh viên không đúng.”

CÓ NHẼ PHẢI 1 LẦN NỮA CÁM ƠN BÁO TIN TỨC-TTXVN ĐÃ CHO NHÀ CHÁU BIẾT SỰ THẬT MỚI !

Note Cuối: NHÀ CHÁU VẪN PHẢN ĐỐI CHUYỆN BẮT GIỮ CHÁU UYÊN !

Read more…

LUẬT SƯ NGÔ NGỌC TRAI GỬI THƯ CHẤT VẤN GS. ĐẶNG HÙNG VÕ

11:17 PM |

LUẬT SƯ NGÔ NGỌC TRAI GỬI THƯ CHẤT VẤN GS. ĐẶNG HÙNG VÕ


Kính gửi Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện,

Được biết chiều nay 8/11 giáo sư Đặng Hùng Võ sẽ đối thoại trả lời về dự án Ecopark, trường hợp anh Diện tham dự xin anh hỏi Giáo sư Võ một câu như sau, tuy rằng không liên quan trực tiếp tới dự án Ecopark nhưng có ảnh hưởng tới rất nhiều người dân bị thu hồi đất hiện nay.

Giáo sư Đặng Hùng Võ giữ cương vị Thứ trưởng Bộ tài nguyên Môi trường từ năm nào đến năm nào? Ở cương vị Thứ trưởng, ông có vai trò tham gia góp ý soạn thảo ban hành Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư không? Bởi lẽ nghị định này do Bộ tài nguyên môi trường chủ trì soạn thảo trình chính phủ ban hành.

Liên quan tới Nghị định 69/2009 có hai vấn đề có liên quan tới trách nhiệm của Bộ tài nguyên môi trường và Giáo sư Võ trong vai trò là Thứ trưởng như sau:

Thứ nhất : Về những sai sót cẩu thả khi ban hành Nghị định 69

Ngày 13/8/2009 Chính phủ ban hành Nghị định 69 thì đến ngày 23/10/2009 Bộ tài nguyên môi trường có văn bản đính chính số 181/ĐC-CP đính chính Nghị định số 69. Nội dung cụ thể như sau, trích nguyên văn:

Do sơ suất trong khâu đọc soát, thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, xin đính chính một số sai sót trong Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư như sau:
1. Tại trang 5 dòng thứ 7 từ trên xuống (khoản 5 Điều 9), viết là: “các khoản 1, 2 và 3”.
Nay xin sửa lại là: “các khoản 2, 3 và 4”.

2. Tại trang 21 dòng thứ 13 từ trên xuống (điểm a khoản 1 Điều 32), viết là: “các Điều 27, 28, 29 và 38”.
Nay xin sửa lại là: “các Điều 29, 30 và 31”.

3. Tại trang 21 dòng thứ 15 từ trên xuống (điểm b khoản 1 Điều 32), viết là: “ khoản 6 Điều 29”.
Nay xin sửa lại là: “khoản 4 Điều 31”.

4. Tại trang 22 dòng thứ 8 từ dưới lên (điểm e khoản 1 Điều 34), viết là: “khoản 1 Điều 22”.
Nay xin sửa lại là: “khoản 1 Điều 19”.

5. Tại trang 28 dòng thứ 13, 14 và 15 từ trên xuống (điểm a khoản 2 Điều 41), viết là: “Điều 10, Điều 12, bỏ nội dung quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết của khu công nghệ cao, khu kinh tế quy định tại các Điều 14, 30, 52, 125, 126, 127 và 141 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP”.

Nay xin sửa lại là: “Điều 10, Điều 12; nội dung quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết của khu công nghệ cao, khu kinh tế quy định tại Điều 14; Điều 30; khoản 2 Điều 31; các Điều 52, 125, 126, 127 và 141 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP”.

6. Tại trang 28 dòng thứ 16 và 17 từ trên xuống (điểm b khoản 2 Điều 41), viết là: “các Điều 3, 6, 10, 19 và 27, khoản 1 Điều 28, 32, 36, 39 và 48 Nghị định số 197/2004/NĐ -CP”.
 
Nay xin sửa lại là: “các Điều 3, 6, 10, 19 và 27; khoản 1 và khoản 2 Điều 28; các Điều 32, 36 và 39; điểm b khoản 1 Điều 44; Điều 48 Nghị định số 197/2004/NĐ -CP”.
7. Tại trang 28 dòng thứ 14 từ dưới lên (điểm d khoản 2 Điều 41), viết là: “khoản 1 Điều 2, khoản 4, khoản 5 và khoản 6 Điều 4 Nghị định số 17/2006/NĐ-CP”.
Nay xin sửa lại là: “khoản 1 Điều 2; các khoản 1, 4, 5 và 6 Điều 4 Nghị định số 17/2006/NĐ-CP”.

8. Tại trang 29 dòng thứ nhất từ trên xuống (khoản 4 của Điều 41), viết số thứ tự khoản là: “4”.
Nay xin sửa lại số thứ tự của khoản này là: “3”./.

Nghị định 69/2009 có 41 điều thì có sai sót ở 8 điều và phải đính chính sửa đổi. 

Một nghị định của chính phủ được ban hành mà có từng ấy lỗi sai sót thì cho thấy sự cẩu thả, vô trách nhiệm của cơ quan soạn thảo ban hành đến chừng nào? Khoan chưa phân tích làm rõ xem nội dung đính chính của Bộ tài nguyên môi trường sẽ khiến cho văn bản chính thức của chính phủ có lợi hay bất lợi hơn cho người dân trong việc thu hồi đất, thì với ngần ấy sai phạm sẽ gây khó khăn rất nhiều cho các cấp chính quyền trong việc áp dụng chính sách pháp luật. Và điều này rõ ràng là làm mất đi sự uy nghiêm của chính phủ trong việc ban hành văn bản pháp luật.

Thứ hai: Về việc giao quyết định thu hồi đất cho người có đất bị thu hồi

Trước khi có nghị định 69/2009/NĐ-CP thì trước đó việc thu hồi đất áp dụng theo Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai.

Khoản 3 Điều 53 Nghị định 84/2007 quy định: Quyết định thu hồi đất phải được gửi đến người có đất bị thu hồi và được niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất bị thu hồi trong suốt thời gian kể từ ngày Ủy ban nhân dân cấp xã nhận được quyết định đến thời điểm kết thúc việc thu hồi.

Việc người dân được giao quyết định thu hồi đất có ý nghĩa rất lớn là nhằm cung cấp thông tin cho người dân được biết mình bị thu hồi đất gì, ở đâu, diện tích bao nhiêu, lý do thu hồi là gì, cơ quan nào thu hồi. Từ đó người dân có cơ sở thông tin để thu xếp, sắp xếp ổn định cuộc sống và thực hiện quyền của người sử dụng đất. 

Nếu biết thu hồi đất ở, người dân sẽ lo thu xếp về chỗ ở mới. Nếu bị thu hồi đất nông nghiệp, người dân sẽ xem xét bị thu hồi diện tích bao nhiêu còn lại bao nhiêu từ đó lo chuyển đổi công ăn việc làm hoặc cơ cấu lại sản xuất. 

Được biết cơ quan nào thu hồi, lý do thu hồi là gì, có chính đáng hay không, người dân có quyền khiếu nại nếu việc thu hồi đất là không đúng pháp luật về thẩm quyền hoặc về căn cứ thu hồi. Qua đó người dân thực hiện vai trò giám sát đối với cán bộ chính quyền trong việc thực hiện chính sách pháp luật về đất đai. Đây là quy định tích cực của chính phủ bảo vệ quyền của người sử dụng đất.

Nhưng quy định tích cực trên đã bị bãi bỏ bởi Nghị định 69/2009. Nghị định 69/2009 không còn quy định buộc cơ quan thu hồi đất phải giao quyết định thu hồi đất cho người dân nữa. Do vậy người dân không còn được quyền khiếu nại về quyết định thu hồi đất. 

Thay vào đó, điểm c khoản 2 Điều 31 nghị định 69/2009 quy định cơ quan thu hồi phải gửi quyết định bồi thường cho người dân. Như vậy trong việc thu hồi đất, theo quy định mới người dân không được có ý kiến (khiếu nại) về việc thu hồi đất nữa mà chỉ được quyền có ý kiến (khiếu nại) về phương án, mức giá đền bù mà thôi. Đây là điểm tối là bước thụt lùi của Nghị định 69/2009/NĐ-CP tước bỏ quyền của người dân, giáo sư Võ có trách nhiệm gì trong việc góp ý soạn thảo vấn đề này không?

Giáo sư không thể không biết việc khiếu kiện đất đai là rất phức tạp, và người dân không thể khiếu kiện nếu không có quyết định thu hồi đất của chính quyền. Có phải việc quy định tước bỏ quyền được nhận quyết định thu hồi đất của người dân là nhằm mục đích ngăn chặn, cản trở người dân khiếu kiện không?

Đề nghị Giáo sư Võ nêu rõ vai trò trách nhiệm của mình liên quan đến việc soạn thảo ban hành Nghị định 69/2009?

Kính mong tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện quan tâm.
Xin trân trọng cảm ơn!
___________________________________
Nghị định 69/2009: http://vietlaw.gov.vn/LAWNET/docView.do?docid=23605&type=html&searchType=fulltextsearch&searchText=
Nghị định 84/2007: http://vietlaw.gov.vn/LAWNET/docView.do?docid=21153&type=html&searchType=fulltextsearch&searchText=
Read more…

Gửi bác Đinh La Thăng - Bộ trưởng bộ Giao thông vận tải

11:10 PM |

Gửi bác Đinh La Thăng - Bộ trưởng bộ Giao thông vận tải

Cháu là 1 sinh viên bình thường, hàng ngày vẫn đi học bằng 1 chiếc xe máy cũ mà bố cháu đã để lại từ khi cháu đi học đại học. Có lẽ sẽ không có lý do gì để cháu viết bức thư này cho đến khi cháu đọc được nghị định mới vào ngày hôm nay, đó là phải là chính chủ mới được phép lưu thông xe trên đường phố. Đây là 1 điều khá bất ngờ không chỉ riêng cháu, mà còn với rất nhiều người dân khác nữa, bác ạ.

Thưa bác, cháu hoàn toàn đồng ý với việc phải làm nghiêm việc sang tên đổi chủ này để các bác có thể quản lý được số xe đang lưu thông trên đường phố, nó sẽ giúp cho các bác thuận lợi hơn trong quá trình điều tra các vụ án, và hơn nữa việc sang tên đổi chủ sẽ làm giảm được thất thu thuế của nhà nước. Về mặt này thì chúng cháu công nhận là bác đúng, nhưng chỉ là 1 mặt nhỏ của vấn đề…

Nếu xét rộng ra, Việt Nam có 87 triệu dân, khoảng 30 triệu người có phương tiện giao thông là ô tô hoặc xe máy, nhưng trong số đó có bao nhiêu người không phải là chủ sở hữu của chiếc xe mình đang đi?

Sinh viên: 90% sinh viên chưa tự kiếm được đủ tiền để có thể mua 1 chiếc xe máy, chỉ là mượn tạm xe của bố mẹ để đi học, nếu sang tên đổi chủ thì sau này trả lại bố mẹ, lại sang tên lần nữa hay sao?

Người đi làm: Có rất nhiều người mua xe cũ để tiết kiệm tiền, có những chiếc xe đã qua 3-4 đời chủ, việc tìm lại chủ cũ là rất khó khăn để có thể sang tên, thậm chí có gặp thì chắc gì họ đã bỏ công đi làm thủ tục sang tên với mình.

Ấy là còn chưa kể chủ cũ đã qua đời, bay ra nước ngoài, hoặc đơn giản là chiếc xe đăng ký ở miền bắc, còn chủ đã bay vào miền Nam sinh sống, lúc ấy phải tìm họ thế nào?

Người lái xe thuê: Lái xe taxi dùng xe của công ty hay tự mua xe? Người lái xe tải đâu có tiền tỉ để mua 1 chiếc xe thùng? Người lái xe buýt tự mua xe và tự lái???

Đó mới chỉ là những trường hợp chung chung, còn thậm chí sẽ có trường hợp cụ thể như:

Mẹ cháu bỏ tiền ra mua 1 chiếc xe, nhưng đăng ký ở tỉnh khác để giá đăng ký rẻ hơn, nhưng là tên của người khác. Vậy bây giờ chiếc xe đó là sở hữu của ai?

Cháu muốn mượn xe của bạn để đi 5 phút, cũng phải sang tên đổi chủ hay sao?

Còn rất nhiều trường hợp nữa mà chắc chắn không thể giải quyết ngay được, bác thử nghĩ xem, nếu luật này được áp dụng vào ngày mai thì có bao nhiều người sẽ biết đến luật, khi bị kiểm tra thì khác nào việc đánh úp người dân?

Kể cả tất cả đều có ý thức sang tên đổi chủ đi chăng nữa, liệu trong vài ngày họ có kịp làm thủ tục sang tên đổi chủ? Đồng nghĩa với việc ngày mai 10/11/2012 có hàng triệu người phạm luật giao thông trên đường.

Bức thư này cháu chỉ gửi trên mạng, viết lên bằng sự bức xúc của hàng triệu người dân chứ không chỉ của riêng cháu, việc bác đưa ra luật này là 1 điều vô lý như bao nhiêu luật khác mà bác đã làm, “ngực lép không được đi xe máy”, “đi dép lê không được đi xe máy”, xe máy không được để xe trên vỉa hè”, “thay đổi giờ làm để giảm tai nạn giao thông”, “xe tuk tuk”, …

Bác là 1 người có tài, có ý tưởng và dám táo bạo thực hiện, nhưng những quyết định của bác đưa ra chỉ có thể thực hiện với những người có xe riêng như bác, có chức có quyền như bác, có tiếng nói như bác, còn dân thực hiện ra sao là việc của dân, dân sai ý kiến bác thì có cảnh sát giao thông xử lý… Cháu thấy đáng buồn thay nếu bác vẫn còn ngồi ở chiếc ghế này.

Dù sao thì, là dân thì cháu phải thực hiện thôi.
Read more…

GS. NGUYỄN MINH THUYẾT NÓI VỀ VĂN HÓA TỪ CHỨC

5:07 AM |

GS Nguyễn Minh Thuyết:

"Từ khi tôi tham gia QH đến nay, chưa thấy trường hợp nào tự nguyện từ chức"

Thứ năm 01/11/2012 07:01 

Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết
"Một số vị không hoàn thành nhiệm vụ, để xảy ra sai sót rất lớn vẫn không chịu từ chức, dù đại biểu Quốc hội đã gợi ý đến nơi đến chốn. Có thể vì đặt sĩ diện cá nhân cao hơn trách nhiệm với công việc, đất nước, với nhân dân. Nhưng cũng có thể vì chức tước gắn chặt với bổng lộc".

Đó là chia sẻ của GS. Nguyễn Minh Thuyết, Đại biểu Quốc hội khoá XI, XII, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội khi trao đổi với phóng viên Báo điện tử Infonet về văn hóa từ chức và việc bỏ phiếu tín nhiệm lãnh đạo.

- Từ trước đến nay, có rất ít lãnh đạo dính sai phạm đủ dũng cảm từ chức. Theo GS, từ chức có phải là một biểu hiện của văn hóa lãnh đạo không? 

Từ xưa tới nay, dù ở nước ta hay nước ngoài, người ta thường có rất nhiều lý do từ chức. Có người từ chức vì thấy mình không đủ sức khỏe để tiếp tục công việc. Có người từ chức vì không đồng tình với cách làm việc hoặc chủ trương công tác của cấp trên. Cũng có người từ chức vì thấy không đủ năng lực thực hiện công việc mình đang làm. Cuối cùng, có người từ chức là để chịu trách nhiệm trước hành vi sai trái của bản thân hay trước một khuyết điểm rất lớn ở trong đơn vị, trong ngành họ phụ trách.

GS Nguyễn Minh Thuyết: Sai phạm nhiều nhưng chưa thấy ai tự nguyện từ chức. Ảnh LAD
Tự nguyện từ chức trong trường hợp nào cũng là biểu hiện của văn hóa. Nhưng từ khi tham gia Quốc hội (QH), tôi chưa thấy trường hợp nào tự nguyện từ chức cả.
 

Một số vị không hoàn thành nhiệm vụ, để xảy ra sai sót rất lớn vẫn không chịu từ chức. Phải chăng họ chưa đạt được trình độ văn hóa tương xứng với cương vị cao của mình?
 
- Nghĩa là người đáng phải từ chức chưa thực sự có trách nhiệm với công việc, với người dân và với chính bản thân mình? GS có cho rằng sự "tham quyền cố vị" bắt nguồn từ nguyên do “chạy chức chạy quyền”? 

Khi một người không đủ năng lực hoàn thành nhiệm vụ hoặc có những lỗi lầm lớn mà vẫn không từ chức thì cũng có rất nhiều lý do. Lý do dễ hiểu nhất là đặt sĩ diện của mình cao hơn trách nhiệm với công việc, với đất nước và nhân dân. 
Tự nguyện từ chức trong trường hợp nào cũng là biểu hiện của văn hóa. Một số vị không hoàn thành nhiệm vụ, để xảy ra sai sót rất lớn vẫn không chịu từ chức, dù đại biểu Quốc hội đã gợi ý đến nơi. Phải chăng họ chưa đạt được trình độ văn hóa tương xứng với cương vị cao của mình?(Nguyễn Minh Thuyết)
Nhưng có một lý do quan trọng khác chỉ người trong cuộc mới hiểu cặn kẽ, đó là sợ mất bổng lộc. Bây giờ chuyện chạy chức chạy quyền không hiếm. Bỏ tiền ra chạy chức quyền, người ta phải thu lại được cái gì từ chức vụ ấy. Vì thế, từ chức có nghĩa là không còn cơ hội để “gặt hái” nữa. Mấy ai muốn dừng khi đang “gặt hái” dễ dàng? 

- Trong các phiên chất vấn và trả lời chất vấn, chúng ta thường thấy các tân Bộ trưởng, người đứng đầu ngành hứa rất nhiều, ngược lại các Bộ trưởng, người đứng đầu ngành lâu năm thường tiết kiệm lời hứa. Vì sao lại có hiện tượng này? GS có hài lòng với những hành động cụ thể sau những lời hứa của họ?

Tôi thấy phần lớn các Bộ trưởng, người đứng đầu ngành khi đã hứa trước QH thường tìm cách chỉ đạo, triển khai công việc để thực hiện lời hứa. Nhưng cũng phần lớn không thực hiện được hoặc không thực hiện được đầy đủ lời hứa của mình. Trước hết, vì bản thân họ không đủ năng lực chỉ đạo, triển khai công việc.

Thứ hai, vì họ không gỡ được những vướng mắc của cơ chế để thực hiện lời hứa của mình. 


Ví dụ, khi mới nhậm chức, Bộ trưởng Vương Đình Huệ có ý kiến rất thẳng thắn về giá xăng và thể hiện rõ quyết tâm giải quyết chuyện này. Nhưng rồi, mọi việc đâu vẫn đóng đấy, thậm chí còn tệ hơn trước. Tôi tin Bộ trưởng Huệ có tâm và có tài, nhưng ông phải bó tay chắc vì không gỡ nổi những mối dây rợ lằng nhằng.
 
"Ngoài bỏ phiếu tín nhiệm hàng năm, QH cũng cần bỏ phiếu tín nhiệm bất thường". Ảnh LAD

Thường những “tư lệnh ngành” mới nhận nhiệm vụ sẽ có nhiều nhiệt huyết, nghĩ ra nhiều kế hoạch, hứa cũng nhiều. Trái lại, các vị “tư lệnh” lâu năm thường không chịu hứa, hứa rất nhỏ giọt, hay "hứa một đằng làm một nẻo" chỉ để chứng tỏ là đã làm. Để giải quyết vướng mắc này, theo tôi, QH phải ra nghị quyết sau mỗi phiên chất vấn, chứ không thể phụ thuộc vào thiện chí của người trả lời chất vấn. Nghị quyết phải xác định trách nhiệm thuộc về ai, trên cơ sở đó yêu cầu người được chất vấn phải làm gì. 

- Không giống như văn hóa từ chức, khái niệm “nhận lỗi” thường được nhắc đến nhiều. GS bình luận gì về cách “nhận lỗi” của những người có trách nhiệm? 

Qua truyền hình, tôi đặc biệt ấn tượng với các vị lãnh đạo chính quyền và công ty ở Nhật Bản, Hàn Quốc. Nếu có lỗi, họ thường xin lỗi rất đàng hoàng, thậm chí còn cúi thấp đầu để xin lỗi. Ở phương Tây cũng vậy: Người có lỗi phải chân thành nhận lỗi. Đó là biểu hiện trình độ văn hóa cao.

Nước ta vẫn tự hào là một nước ngàn năm văn hiến, nhưng không hiểu sao việc nhận lỗi khó thế. Phổ biến nhất là làm ngơ. Thứ hai là đổ lỗi. Ngành này đổ lỗi cho ngành kia. Hết cách thì đổ cho cơ chế. Đổ cả cho QH (vì QH ban hành luật). Thậm chí đổ … cho Trời, cho Dân. 
 

Vừa qua, tại phiên bế mạc Hội nghị TƯ 6, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thay mặt Trung ương, Bộ Chính trị chân thành và nghiêm khắc nhận lỗi trước toàn Đảng, toàn dân vì những sai lầm, yếu kém trong lãnh đạo đất nước, để xảy ra tình trạng tiêu cực, tham nhũng tràn lan và suy thoái, biến chất trong "một bộ phận không nhỏ cán bộ, Đảng viên". Tiếp đó, tại phiên khai mạc kỳ họp thứ tư của Quốc hội, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng đã nhận lỗi và nhận trách nhiệm về những yếu kém, khuyết điểm của Chính phủ và cá nhân trong điều hành kinh tế-xã hội. Theo tôi, nhận lỗi một cách chân thành là biểu hiện của văn hóa. Tuy nhiên, điều người dân cần và quan tâm không chỉ là việc nhận lỗi mà quan trọng hơn là những hành động thực tế thể hiện sự nghiêm khắc với lỗi của mình và hành động để khắc phục, sửa lỗi. Người dân sẽ theo dõi, giám sát thường xuyên việc này.

- GS đánh giá thế nào về việc bỏ phiếu tín nhiệm mà Quốc hội đang thảo luận?

Tôi được biết, theo dự thảo được trình ra Quốc hội, việc bỏ phiếu tín nhiệm sẽ được tiến hành hằng năm với bốn mức đánh giá: tín nhiệm cao, tín nhiệm, tín nhiệm thấp và tín nhiệm rất thấp. Việc chia ra nhiều hạng mức tín nhiệm như vậy sẽ giảm nhẹ quyền lực của Quốc hội và sẽ "cứu" được nhiều người thoát khỏi việc miễn nhiệm. Vì chỉ trong trường hợp bị quá nửa tổng số đại biểu QH bỏ phiếu tín nhiệm ở mức rất thấp (mức cuối cùng) thì mới bị xem xét miễn nhiệm. Mà tâm lý của người bỏ phiếu khi có bốn mức đánh giá thì thường cũng chỉ đánh giá đến mức “tín nhiệm thấp” là cùng. 

Việc chia ra nhiều hạng mức tín nhiệm khi bỏ phiếu sẽ giảm nhẹ quyền lực của Quốc hội và sẽ "cứu" được nhiều người thoát khỏi việc miễn nhiệm. Vì chỉ trong trường hợp bị quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm bị ở mức rất thấp (mức cuối cùng) thì mới bị xem xét miễn nhiệm. Mà tâm lý của người bỏ phiếu khi có bốn mức đánh giá thì thường cũng chỉ đánh giá đến mức “tín nhiệm thấp” là cùng.

Trên thế giới chưa có nước nào bỏ phiếu kiểu như thế. Họ chỉ đưa ra hai lựa chọn cho đại biểu trong cuộc bỏ phiếu bất tín nhiệm: đồng ý hoặc không đồng ý. Thế thôi. 

Theo tôi, khi bỏ phiếu tín nhiệm, chỉ nên có hai lựa chọn: tín nhiệm hoặc không tín nhiệm. Người nào không được hơn 50% tổng số ĐBQH tín nhiệm thì nên từ chức, nếu không, sẽ được xem xét việc miễn nhiệm. 

Ngoài bỏ phiếu tín nhiệm hằng năm, QH cũng cần bỏ phiếu tín nhiệm bất thường. Nếu một cơ quan của QH hoặc 1 ĐBQH đề xuất và được tối thiểu 2 ĐBQH khác ủng hộ thì QH phải biểu quyết xem có tán thành đề xuất của ĐB không; nếu có tối thiểu 20% ĐBQH ủng hộ thì QH sẽ tổ chức bỏ phiếu tín nhiệm.  

Nhưng quan trọng nhất là phải để ĐBQH được thể hiện chính kiến của mình. Nếu luật quy định rồi mà cứ mỗi lần bỏ phiếu lại “định hướng” thì rất khó để ĐBQH thực hiện quy định của pháp luật và thể hiện ý chí của cử tri. Cần phải tin và tôn trọng ĐBQH. Mỗi đại biểu đã được dân lựa chọn vào QH sẽ phải có trách nhiệm với đất nước, với nhân dân chứ không thể bỏ phiếu tín nhiệm tuỳ tiện được.

-Xin cảm ơn GS!

Read more…

Hai người tranh chức Phó TT Mỹ lên tiếng trong tư cách Công giáo

5:53 AM |

153950662-10-jpg_014655

Vũ Văn An

Trong chiến dịch tranh cử hiện nay giữa hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ, các vấn đề tôn giáo ít được nêu ra. Người ta chú trọng nhiều hơn đến các vấn đề kinh tế và ngoại giao. Nhiều người cho chuyện này rất thích hợp vì nguyên tắc tách biệt giữa tôn giáo và chính trị. Có người còn trích dẫn câu “của Xêda trả cho Xêda, của Chúa trả cho Chúa”. Câu này đã bị nhiều người mặc tình giải thích thế nào thì giải thích, đến độ của Chúa càng ngày càng bị thu nhỏ lại, còn của Xêda càng ngày càng phình ra như con ễnh ương. Buộc tôn giáo phải lui vào khu vực tư của lương tâm cá nhân. Điều mà nhất định Chúa Giêsu không muốn nói. Chưa kể chuyện này: mấy anh Cộng Hòa cũng như Dân Chủ chẳng tôn trọng cái câu muôn thuở đó của Chúa Kitô, và càng ngày càng pha mình vào việc coi thường những gì là “của Thiên Chúa” đến độ trên thực tế Thiên Chúa còn đâu để mà đòi hỏi của này của nọ.
Có lẽ vì thế, Tạp chí America vừa gửi cho hai ông Jos. R. Biden và Paul D. Ryan, hai ứng cử viên phó tổng thống một loạt câu hỏi để các ông trả lời trong tư cách Công Giáo. Ta biết cuộc bầu cử tại Hoa Kỳ lần này là lần đầu tiên trong lịch sử với cả hai ứng cử viên phó tổng thống đều là người Công Giáo. Trong cố gắng tìm hiểu tư tưởng của họ liên quan tới các vấn đề đức tin, sinh hoạt công cộng, tạp chí America đã gửi cho mỗi ứng cử viên 5 câu hỏi giống nhau. Và sau đây là các câu trả lời của họ:
I. Phó Tổng Thống Joseph R. Biden Jr:
Câu hỏi 1: Trong những hoàn cảnh nào, chiến tranh được biện minh về phương diện luân lý?
Trả lời: Chiến tranh được biện minh về phương diện luân lý khi nó cần thiết để bảo vệ an ninh của người vô tội chống lại hành động gây hấn. Sự đe dọa phải trầm trọng và chắc chắn. Phải đưa ra mọi cố gắng để tránh tranh chấp một cách hòa bình.
Câu hỏi 2: Các ý thức hệ chính trị đều mang theo các giả định về điều tốt nhất cho người nghèo. Ông hãy mô tả kinh nghiệm bản thân với những người hiện sống trong cảnh nghèo và điều này đã giúp lên khuôn ý thức hệ chính trị của ông ra sao.
Trả lời: Trước nhất, tôi xin nói: không phải mọi ý thức hệ chính trị đều mang theo giả định về điều tốt nhất cho người nghèo. Nhưng theo quan điểm của tôi, bất cứ ý thức hệ chính trị chính đáng nào cũng phải xem sét vấn đề căn bản này.
Kinh nghiệm của tôi với những người hiện sống trong cảnh nghèo có phạm vi hoàn cầu từ Darfur và Chad tới Ấn Độ, Châu Mỹ La Tinh. Nhưng sâu sắc hơn cả, tôi đã được chứng kiến cảnh nghèo tại quê hương ta, bất chấp ở vùng Appalachia, nơi tôi từng viếng thăm hay tại tiểu bang quê tôi là Delaware.
Khi tôi còn là một đứa trẻ, cha tôi không bao giờ bước qua một người ăn mày trên đường phố, dù một ai đó bảo người rằng: “Joe ạ, tôi biết điều hắn sắp làm là đi mua rượu”. Cha tôi sẽ trả lời: “ông nghĩ nếu thực sự được lựa chọn, ông ta sẽ tự ý đứng ở đây hay sao?” Khi hiểu rõ ta có thể làm nhẹ cảnh nghèo, tôi bắt đầu giả định rằng có cơ hội chính đáng, ai cũng sẽ cố gắng trách nhiệm lấy đời mình. Nếu có cơ may, và khả năng tâm trí, người nào cũng sẽ đáp ứng các sáng kiến. Đó là lý do khiến tôi ủng hộ các đạo luật an-sinh-để-có-việc-làm khi còn là một thượng nghị sĩ. Đó cũng là lý do khiến tôi ủng hộ các chương trình nuôi dưỡng và chăm sóc sức khỏe cho trẻ em. Một người mẹ có thể trốn tránh trách nhiệm nhưng con cái bà thì không hề có cái khả năng ấy. Tổng thống và tôi ủng hộ sáng kiến an toàn thực phẩm của Châu Phi, một sáng kiến không chỉ nhằm giảm nghèo mà còn nhằm đem lại ổn định cho các quốc gia Châu Phi. Tất cả đều là con cái ta. Chúng là những sợi dây diều sẽ nâng các tham vọng quốc gia của ta lên cao.
Câu hỏi 3: Nếu có 5 phút với Đức Giáo Hoàng, ông sẽ nói gì với ngài?
Trả lời: Năm ngoái, tôi có vinh dự lớn được gặp Đức Giáo Hoàng tại Vatican, và hai chúng tôi đã có cuộc thảo luận rộng rãi về nhiều vấn đề. Thảo luận về cuộc đàm đạo riêng tư đó, đối với tôi, là điều không thích đáng. Nhưng tôi rất có ấn tượng về sự cởi mở và thông sáng của ngài. Nếu có dịp được gặp lại, tôi muốn được nghe ngài nói nhiều hơn về chuyến tông du Libăng vừa qua, ý nghĩ của ngài về Mùa Xuân Ả Rập và quan tâm của ngài về sự bất khoan dung tôn giáo. Thêm vào các vấn đề chiến tranh và hòa bình, tôi muốn có dịp thảo luận một số vấn đề hiện đang thách thức Giáo Hội khắp thế giới và tại Hoa Kỳ.
Câu hỏi 4: Ông có nghĩ là có một ơn gọi chính trị không? Phải biểu lộ nó trong đời sống ông ra sao? 
Trả lời: Tôi nghĩ có nhiều loại ơn gọi khác nhau. Giống nhiều trẻ trai Công Giáo khác, lúc còn nhỏ, tôi cũng đã nghĩ đến đời sống tu trì. Tôi được nuôi dưỡng trong một gia đình trong đó, có sự đồng thuận tuyệt đối giữa các giá trị thầy mẹ tôi bảo ban và các giá trị được đức tin của tôi truyền dạy. Các giá trị này kết luận rằng bạn quả có nghĩa vụ phải vươn tay ra nắm lấy anh chị em đang túng thiếu của bạn, bạn có nghĩa vụ phải đứng lên tranh đấu khi thấy bất công, bạn có nghĩa vụ phải lên tiếng khi có thể làm sự việc tốt hơn. Khi còn là học sinh trung học và sinh viên cao đẳng, ý thức chính trị của tôi được lên khuôn bởi thời tổng thống của John F. Kennedy và phong trào dân quyền của Martin Luther King. Tổng Thống Kennedy làm tôi tin rằng dấn thân vào chính trị là một nghề cao quí, còn Tiến Sĩ King thì giúp tôi hiểu ra rằng ta có nhiều phương tiện biến đổi thế giới nên tốt đẹp hơn.
Nhưng việc dấn thân ấy có thể mang nhiều hình thức khác nhau, giống như trong gia đình tôi. Vợ tôi là một nhà giáo dục tận tụy. Con gái tôi là một nhân viên xã hội. Một trong các con trai của tôi thì dấn thân sâu vào việc xử lý cảnh nghèo đói khắp thế giới trong tư cách chủ tịch Chương Trình Thực Phẩm Thế Giới của Hoa Kỳ. Đứa con trai khác thì lại tuyệt đối dấn thân cho việc chấm dứt việc bạo hành phụ nữ và trẻ em, trong tư cách bộ trưởng tư pháp của tiểu bang Delaware. Có rất nhiều phương cách để dấn thân. Nhưng trong gia đình tôi, tôi được dạy rằng điều cần là phải dấn thân.
Câu hỏi 5: Trong đời ông làm chính khách Hoa Kỳ, điều gì gây tranh chấp lớn nhất đối với ông trong tư cách Công Giáo?
Trả lời: Trong đời tôi, vì được một bà mẹ Công Giáo Ái Nhĩ Lan ngoan đạo dưỡng dục, được các nữ tu và linh mục giáo dục, và luôn thực hành niềm tin của mình trong những năm qua, đức tin của tôi không tạo nên một tranh chấp nào cho tôi cả, trái lại đã ban cho tôi một cơ sở vững vàng.
Đức tin ấy đã hướng dẫn nền chính trị của tôi một cách mà không điều gì khác có thể làm được. Học thuyết xã hội Công Giáo vốn là nguyên tắc hướng dẫn các lá phiếu và chức vụ tôi từng đảm nhiệm suốt trong sự nghiệp của tôi, đối với các vấn đề từ các chương trình chống nghèo đói tới việc bạo hành phụ nữ, hệ thống công lý hình sự, cũng như các liên hệ quốc tế.
II. Dân Biểu Paul D. Ryan
Câu hỏi 1: Trong những hoàn cảnh nào, chiến tranh được biện minh về phương diện luân lý?
Trả lời: Chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ cần có sự rõ ràng về luân lý và sự vững chắc về mục đích. Chỉ với việc vững vàng thi hành ảnh hưởng của Hoa Kỳ, ta mới thắng được sự ác và bạo hành. Đó là cách ta giữ cho các nan đề ở ngoại quốc khỏi trở thành khủng hoảng. Đó là cách duy trì hòa bình.
Mitt Romney vốn nói rằng ông chỉ phái binh sĩ vào trận trong những tình huống hết sức đặc biệt. Thứ nhất, cần thiết là quyền lợi sinh tử của Hoa Kỳ phải lâm nguy. Thứ hai, cần phải xác định rõ sứ mệnh của ta. Thứ ba, cần xác định rõ khi nào sứ mệnh của ta hoàn tất. Thứ tư, phải cung cấp tài nguyên dư thừa để bảo đảm sứ mệnh của ta được thực thi cách hữu hiệu. Và sau cùng, phải hiểu rõ điều còn lại sau khi ta rút đi. Tất cả những điều này phải được xác định trước khi Mitt Romney khai triển sức mạnh quân sự tại bất cứ nơi nào ở ngoại quốc.
Câu hỏi 2: Các ý thức hệ chính trị đều mang theo các giả định về điều tốt nhất cho người nghèo. Ông hãy mô tả kinh nghiệm bản thân với những người hiện sống trong cảnh nghèo và điều này đã giúp lên khuôn ý thức hệ chính trị của ông ra sao.
Trả lời: Khi còn nhỏ, tôi làm thiện nguyện tại những cơ sở nấu cháo (cho người nghèo). Hiện nay, tôi vẫn dẫn các con tôi đi phục vụ bữa ăn tại một nhà dưỡng lão tại Janesville. Bài học tôi hay chia sẻ với các con là: để có thể hiểu được nỗi khổ đau của con người, điều quan trọng là phải nhìn thẳng vào những người các con phục vụ. Ta phải nhìn nhận phẩm giá của từng người con của Thiên Chúa.
Các nhà tạo chính sách có trách nhiệm phải xử lý các nguyên nhân gốc gây ra cảnh nghèo, chứ không phải chỉ đương đầu với các triệu chứng của thực tại bi thảm này mà thôi. Đức tin Công Giáo của tôi luôn cổ vũ việc ưu tiên chọn người nghèo. Điều này không đồng nghĩa với việc ưu tiên chọn một chính phủ lớn hơn.
Chính phủ Romney-Ryan sẽ cổ vũ các giải pháp nhằm tối đa hóa sự phát triển và cơ may, chuyển động đi lên và an toàn kinh tế. Chúng tôi bác bỏ phương thức thất bại cứ mở rộng hoài chính phủ liên bang đến độ thay thế hẳn các định chế có ý nghĩa như gia đình, các tổ chức dân chính và các cộng đồng đức tin, tức các định chế nơi ta thực sự chăm sóc cho nhau. Đúng, lưới an toàn của chính phủ cần để giúp những người không có phương tiện trợ giúp nào khác. Nhưng tôi tin rằng giáo huấn của Giáo Hội đòi nhiều hành động tích cực hơn là chỉ trợ giúp: nó đòi ta phải hành động để phá vỡ toàn bộ cái chu kỳ nghèo đói, và điều này đòi phải có một phương thức hoàn toàn khác với phương thức của Tổng Thống Obama, người mà thành tích kinh tế đã tạo ra tỷ số nghèo đói nhất trong thế hệ này.
Câu hỏi 3: Nếu có 5 phút với Đức Giáo Hoàng, ông sẽ nói gì với ngài?
Trả lời: Tôi sẽ kính cẩn xin ngài cầu nguyện cho sự an vui của mọi người dân nước ta, không trừ một ai.
Câu hỏi 4: Ông có nghĩ là có một ơn gọi chính trị không? Phải biểu lộ nó trong đời sống ông ra sao? 
Trả lời: Ơn gọi đầu tiên của tôi là làm một người chồng và một người cha tốt. Một trong các yêu cầu của tôi khi tham gia cuộc tranh cử là được về nhà ở Janesville, Wisonsin, vào mỗi Chúa Nhật để tham dự Thánh Lễ với gia đình tôi. Tôi về nhà hầu hết các Chúa Nhật và khi du hành, tôi luôn tìm ra buổi lễ ở nhà thờ để tham dự. Giáo Hội dạy rằng mọi người Công Giáo có nghĩa vụ làm công dân tích cực nhưng cũng có ơn gọi chính trị đối với một số người được kêu gọi. Tôi tin rằng các công chức được kêu gọi hợp tác trong việc tạo cơ hội kinh tế và các điều kiện cho một đời sống gia đình toàn vẹn và mạnh mẽ. Tôi tin vào quyền được giúp các cá nhân, được sống liên đới với nhau trong các cộng đồng của ta. Tôi cũng tin rằng chính phủ nào gần gũi với người được cai trị nhất là chính phủ cai trị tốt nhất. Ta không tin vào điều Chân Phúc Giáo Hoàng Gioan Phaolô II gọi là nhà nước trợ giúp xã hội, hay một nhà nước chuyên lo hình thức an sinh bao trùm mọi người, một nhà nước bị Đức GH Bênêđíctô XVI chỉ trích. Theo chúng ta, gia đình truyền thống là cái nhân của xã hội, và phẩm giá cá nhân của con người phải được biểu lộ trong nền kinh tế tự do.
Các đại biểu chính trị của Hoa Kỳ có bổn phận luân lý và hợp hiến phải bảo vệ quyền tự do tôn giáo của Tu Chính Án Thứ Nhất. Chúng ta rất quan tâm đối với cuộc tấn công vào tự do tôn giáo của chính phủ Obama. Ta không nên đòi các giáo hội, các cơ quan bác ái và bệnh viện phải làm những điều vi phạm tới tự do tôn giáo và lương tâm của họ. Chính phủ của ta hiện nay đặt các giáo hội và cao đẳng của ta vào một cái thế khiến họ phải kiện chính phủ để bảo vệ quyền tự do tôn giáo của họ theo Tu Chính Án thứ nhất.
Câu hỏi 5: Trong đời ông làm chính khách Hoa Kỳ, điều gì gây tranh chấp lớn nhất đối với ông trong tư cách Công Giáo?
Trả lời: Thành thực mà nói, tôi không bao giờ có một tranh chấp nghiêm trọng nào về lương tâm trong tư cách một chính khách Công Giáo. Lý do là tôi đã nhận ra rằng các nghĩa vụ Công Giáo của tôi phù hợp với các nghĩa vụ chính trị theo Hiến Pháp của tôi. Đôi khi quả là thất vọng khi một vài chính sách hay luật lệ không nhất quán với sự thật luân lý theo cái hiểu của mình. Nhưng lý do lớn nhất giúp cho Hoa Kỳ tiếp tục là một quốc gia ngoại hạng là nhân dân ta vẫn tự cai trị mình trong tự do, điều này có nghĩa các chính sách đi ngược lại các nguyên tắc luân lý của ta vẫn có thể được thay đổi nhờ diễn trình bầu cử, như ta sẽ được chứng kiến một lần nữa vào ngày 6 tháng Mười Một.
Ghi chú bên lề: nhiều người đọc các câu trả lời này đều cho hay: cả hai ứng cử viên đều không trung thực khi cho rằng không gặp khó khăn nào từ phía tôn giáo đối với sự nghiệp chính trị của mình. Đàng khác, khi Dân Biểu Ryan nói: chỉ yêu cầu Đức GH cầu nguyện, thì hình như ông muốn đẩy ngài vào một góc phòng khá chật hẹp.
Read more…

Nói chuyện Ăn Thịt Chó

11:00 PM |

Mình lang thang net, thấy bài này vui vui, post lên đây cho mọi người đọc.
Bất thực cẩu nhục, bất tri thiên hạ đại vị,, không ăn thịt chó, thì không biết miếng ngon trong thiên hạ! Cổ nhân thật đa ngôn, ăn to nói lớn. Mấy đám hậu sinh ngông cuồng không kém, tên bồ tèo nối khố HLT, năm gà chưa đi, năm chó chưa tới, y đã la làng, năm chó nói chuyện chó. Tên bồ tèo nối khố khác, tu bíp LĐT, trời trở lạnh trên New Jersey, nghe nói đến chó, vội vã xưng danh ngay: hội trưởng ăn thịt cầy Y khoa Huế, hội trưởng hội ăn nhậu Tổng y viện Cộng Hòa! Tôi e có nợ với tên HLT, đôi khi đọc tạp văn hắn, vật tư lại cồn cào cấn cấn, nghe phè phè trong người, sinh khó ở, nên lại phải ra chiêu, tuy ngoằng nghoèo, nhưng cũng mong dốc được bầu tâm sự.

Năm chó...Nói chuyện Ăn Thịt Chó Nguyễn Quốc Bảo
Lại nữa, đã định tu thân, không xía chi tới chuyện giang hồ, ngồi nhà tay thay tả tay...đếm bạc (mấy chữ ni là bồ tèo HNH tặng tui), bởi đang rung cây nhát khỉ, quyên tiền (đếm bạc) giúp trẻ em mồ côi Việt Nam cho tên bồ tèo khác, NXH, về xứ ăn tết... với trẻ em mồ côi! Nhưng rồi định mệnh éo le, rung cây không có khỉ nữa, hết đếm bạc, thôi thì tay thay tả tay lại múa gậy vườn hoang.
Hắn nói chuyện chó, tu bíp lại là thực cẩu tài tử, nên xin viết vài hàng tào lao, tri âm với hai khổ chủ này. Chuyện ăn thịt cầy, nhan nhản những khảo cứu, bình luận hít hà, nhiều lắm đọc không hết. Khoái khẩu đại tài tử, Vũ bằng Tiên sinh, trong muôn một, đã từng làm rạng rỡ, tuy là một cách kín đáo rào trước đón sau, món ăn dân tộc quốc hồn quốc túy. Chuyện ăn thịt cầy ăn sướng miệng nhưng lại là một tabou, kiêng kỵ, kiêng đả động đến, nên phải ăn nói dè dặt chăng? Hai thế giới Đông Tây không đồng ý trên lãnh vực khoái khẩu này. Tỷ dụ gần đây tổ chức đá bóng FIFA a dua với tổ chức bảo vệ động vật ép buộc Triều Tiên ra lệnh cấm ăn thịt chó trong dịp giải World Cup (2002), cũng như trước đây, dịp thế vận hội tại Hán thành 1988, các tiệm mộc tồn cũng phải tạm thời đóng cửa hoặc di cư tị nạn về đồng quê. Bây giờ đến lượt mấy cha Chệt đỏ, muốn tổ chức Thế vận hội Bắc kinh 2008, là phải dẹp hết mấy tiệm cẩu xực ở kinh đô. Vậy thì lịch sử ăn thịt chó và tiến trình của nó như thế nào?
Cổ nhân Á châu ăn thịt chó từ đời...thời kỳ đồ đá! Thịt cầy thường được gọi là hương nhục, thịt thơm hay địa dương, dê đất. Từ thời tiền sử, con cầy là một trong thú vật đầu tiên nhân loại đã thuần hóa. Cầy đi vào đời sống dân gian, giúp đỡ mở mang kinh tế. Dùng cầy đi săn, trợ giúp văn minh nông nghiệp, giữ dìn nhà cửa trang trại. Truyền thuyết, cầy đi săn, đem về một hột giống, cốc lạp, từ một thiên giới nào đó, khi qua sông đã phải bỏ trên đuôi cho khỏi rớt, hột giống này sinh ra hạt lúa (thóc) hay hạt kê (millet). Nhiều chốn đồng quê Tây Nam Bách Việt, ngày rằm tháng giêng, làm tiệc đãi chó để trả ơn.
Có lẽ vì chó là gia súc chủ chốt trong lịch sử nhân loại, có thể chế gần gũi, cho nên xã hội nguyên thủy đã dùng chó làm tế vật cúng thần linh và tổ tiên. Thế nhưng, tế vật phải là đồ ăn được và ăn ngon, do đó nhân loại bắt đầu xực cẩu! Ai ăn thịt cầy cũng được, trừ phù thủy, vì chó thính mũi, có thể đánh hơi được thần linh, nhậu thịt cầy dzô sẽ mất hết ma thuật! Khởi nguyên sát cẩu từ thời nào, thì không được rõ ràng. Sử Tàu có chép lệ cúng đầu năm, Vu sát cẩu tế tự. Bố Y tộc, một bộ lạc xứ Bách Việt (thân thiết với Lạc Việt) ghi chú chuyện cổ tích, dùng thịt cầy cúng Nhương (lễ cầu giải trừ tai họa) đã cứu nhiều nông dân bị liệt sau khi đi ươm mạ ở các ruộng ẩm thấp.
Xin trình làng một chuyện lịch sử : Từ thời cổ đại, ăn thịt chó là tập tục của Bố Y tộc và lũ hậu duệ (con cháu) nòi Việt, gọi Việt nhân , tức giống Việt. Ngày xưa các vùng Giang, Chiết, Mân, Việt đều là nòi của giống Việt ở, gọi là Bách Việt. Như giống Âu Việt thì ở Chiết Giang, Mân Việt thì ở Phúc Kiến , Dương Việt thì ở Giang Tây, Nam Việt thì ở Quảng Đông, Lạc Việt thì ở nước Việt Nam ta, tất cả đều gọi là Bách Việt cả. Thành ra lịch sử xực thịt cầy có quan hệ mật thiết với nòi giống Việt!
Sách Quốc ngữ - Việt ngữ thượng chép: Việt Vương Câu Tiễn, nằm gai nếm mật ngọa tân thường đảm, chuẩn bị tái khởi dành lại đông sơn, ra lệ cho quốc nhân sinh nhiều con cái, tăng gia binh nguyên: sinh một con trai, tưởng lệ hai hồ rượu và một con cầy; sinh con gái tưởng lệ hai hồ rượu và một con heo (lợn, lão trư)! Cho thấy quý bà có tin mừng hoan hỉ xực thịt cầy đã đời, và từ thời Câu Tiễn, thịt chó đã được quý trọng hơn thịt heo!
Sử kí Việt Vương Câu Tiễn thế gia còn chép chuyện Phạm Lãi, sau khi giúp Câu Tiễn trả mối thù xưa dẹp tan nước Ngô, Pham Lãi hồi lai Tề quốc, viết thơ riêng cho Đại Phu Văn Chủng, nói "điểu một hữu liễu, nhân môn tựu bả lương cung tàng khởi lai, nhi thố tử đả hoàn liễu, chủ nhân thường thường bả liệp cẩu sát lai cật ", nghĩa chim chết xong rồi, người ta cầm cất cung đi, thỏ đã chết rồi, chủ thường giết chó săn. Chắc là để ăn thịt chứ còn làm gì nữa! Phạm Lãi lại nói Câu Tiễn cổ hươu miệng chim, loại người này chỉ chơi được trong hoạn nạn, lúc thành công nên xa chạy cao bay, tránh tai họa xảy tới. Đó là lai lịch sau này của thành ngữ "Thố tử cẩu phanh", thỏ chết chó săn đem nấu. Cũng là lai lịch "Điểu tận cung tàn", chim chết xếp cung.
Việt nhân và lũ Việt hậu duệ tức con cháu, đưa ảnh hưởng văn hóa "hỉ hoan thực cẩu nhục", hoan hỉ ăn thịt chó, đến những địa khu khác. Quảng đông khi đó xưng là Việt, thời Tần, Quảng đông thuộc địa khu Bách Việt thụ đáo ảnh hưởng ăn thịt chó một cách rất hoan hỉ! Tục ngữ còn nói "Cẩu phạ lão Quảng", chó sợ dân Quảng, ý nói dân Quảng thường mở miệng nghị luận "sát cẩu"! Cũng vì dây dưa địa lý qua Hàn bán đảo (Thượng Hải, Triết Giang...) mà dân triều Tiên ăn thịt chó như điên! Người Triều Tiên, 92% liền ông 68% liền bà, xực mỗi năm 1 triệu con cầy. Vậy thì Ăn thịt cầy là Văn hóa Bách Việt, và dân Việt đã truyền bá và bảo tồn truyền thống văn hóa thịt cầy một cách vẻ vang.
Tình yêu thịt cầy vô bờ bến nảy sinh những luận điệu: " quải dương đầu, mại cẩu nhục ", treo đầu dê bán thịt chó! " phì dương để bất thượng sấu cẩu " dê béo không bằng chó gầy, " nhất hoàng nhị hắc tam bạch " số dách chó vàng, hai chó đen, ba chó trắng. Lí Thì Trân, người Hồ Bắc, đời Minh (1368-1644), danh y dược học gia, trong "Bản thảo cương mục" giới thiệu tác dụng của thịt cầy trong bốn dược phương khác nhau. Đất Quý châu, dân Bố Y tộc, làm việc quanh năm ở thủy điền, nhậu thịt cầy thường xuyên, khu phong khư thấp và lại ôn bổ thân thể! Cũng ở miền cao nguyên Quý châu đông con cháu Việt nhân, có loại chó Hoa Giang, Hoa Giang cẩu nhục, nổi tiếng số môt, trẻ sơ sinh ơ xứ này mới ra đời đã đòi ăn!
Bắc sử man liêu chép, cho đến nay, dân một bộ tộc tỉnh Tứ Xuyên nếu lỡ vì thù hận mà sinh sát giết nhau, rồi phải "tẩu tị ngoại, cầu đắc nhất cẩu dĩ tạ, bất phục hiềm hận ", chạy đi tị ngoại, tìm được một con cầy làm đồ tự tạ, chẳng phục hiềm lại hận thù nữa! Thậm chí cha con giận nhau động võ, cũng dùng chó để giải hòa! Ngạn ngữ còn nói "đại cẩu nhất đầu, mại nhất sinh khẩu", một đầu chó, mua được miệng người! Do đó mới thấy duyên cớ sâu đậm của tình yêu thịt cầy trong dân gian!
Dân Chệt ăn thịt chó, ở đâu cũng có, thịnh hành nhất là các tỉnh đông bắc và nhất là Quý châu, Quảng tây, Quảng đông, Phúc kiến. Ở Âu châu, thời tiểu băng kì thế kỷ 14, vì nạn đói, dân chúng ăn thịt cầy. Khi kinh đô Ba lê bị bao vây năm 1870, cũng xẩy ra vụ xực mộc tồn. Nhưng tại là bắt buộc nên phải ăn, chứ không cẩu xực một cách hoan hỉ như dân Việt. Vấn đề dị ứng giữa đông và tây về khoái khẩu là một chuyện nan giải. Thế nhưng ông tây bà đầm viết báo ở Đức và Pháp, khi trích dẫn Bắc kinh và Hán thành đã thực hiện những tiến bộ đồ sộ trong lãnh vực không ăn thịt chó, thì đó là những tiến bộ chi? Nòi Việt mất cả mấy thế kỷ để có một văn hóa vẻ vang ăn thịt cầy, thế không phải là tiến bộ Kolossal sao! Cả hoàn cầu ăn thịt heo, nhóm hồi giáo không ăn, thế thì phải khuyên rệp ăn thịt lợn để làm tiến bộ sao? Nhưng chả thấy ai động đến chân lông mấy tên rệp ví sợ khó khăn dầu lửa. Đức trước đây chê Pháp ăn mấy con ét cạc gô o bơ là dã man lạc hậu, Nhật thuở xưa cũng ăn thịt cầy, bây giờ theo hùa "bảo vệ động vật". Thái dám chửi Việt nam "Đồ ăn thịt chó, cút về nước!". Việt Nam ta cười dân Căm bốt ăn mắm bò hóc...Thiệt là miếng ăn là miêng tồi tàn, nhưng không khoái khẩu, làm sao nhân loại tồn tại đến giờ phút này? Dân Quảng đông ăn tất cả cái chi có bốn chân, trừ bàn và ghế, tất cả cái chi bay trên trời, trừ trực thăng...Tôi đã từng ăn bò cạp chiên ở Miến Điện, châu chấu cào cào rang ở Bắc phi, đều hẩu xực cả. Còn thịt ngựa? Ở Âu châu, gia súc ni gần người hơn cẩu, làm ruộng, kéo xe, đánh cá ngựa... nhưng bíp tếch ngựa là món ăn thượng hạng của các thể tháo gia, và giúp cho chốn phòng the nhiều chuyện thoải mái. Ở Pháp, boucherie chevaline rất được trọng đãi và xịt tếch ngựa rất đắt tiền. Thái lan, Mỹ la tinh ăn cá sấu, dân đồng bằng sông Nil, nhất là dân Ai cập, khoái ăn thịt trâu hơn thịt bò. Xứ mình ăn rùa, rắn, chuột, ba ba, cua đinh...Ơ Trung quốc, nhiều xứ hay thiểu số (Mãn châu, Hà bắc,...) không ăn thịt cầy không phải để bảo vệ chó, nhưng là vì truyền thuyết lịch sử, khi thì chó cứu vua này, khi thì vua kia sống nhờ sữa chó, v v...

Thịt chó hàm tính ôn, bổ trung ích khí, ôn thận mà lại trợ dương. Tráng dương nhiều nên dân Hán dùng làm bổ phẩm cho mùa đông lạnh lẽo. Dân Triều tiên lại nói thịt chó thanh nhiệt khư hỏa! Dân nghiện cầy tơ, biết thịt cầy thơm phức nên gọi là hương nhục, giá trị dinh dưỡng rất cao, 100gr thịt có 14.5gr prồ tê in, 23.5gr chất béo, nhiều potassium, calcium, phosphorus, nhiều loại vitamin và amino acid, tính lại nhập dược, nghĩa là chữa được bệnh có tính cách phổ tế cứu nguy! Vì khư phong khư hàn nên hầu hết các ba chệt ở xứ lạnh phải xực thịt cầy lúc nhập đông, hạt liễu cẩu nhục thang, đông thiên năng bả miên bị đang, uống súp thịt cầy, như mùa đông đắp chăn bông! Y học hiện đại nghiên cứu, chứng minh thịt cầy có vài nguyên tố hi hữu, trị được bệnh tâm não khuyết huyết, điều chỉnh cao huyết áp. Thịt chó rất khả dụng cho lão nhân bị hư nhược, tiểu tiện bất tận, tứ chi lạnh ngắt, tinh thần bất chấn, ăn thịt chó nướng hồng thiêu, các cụ sẽ tăng cường năng lực kháng hàn! Chu choa, ca tụng chi nhiều rứa, mà đâu đã hết. Còn an ngũ tạng, khinh thân, ích khí, bổ vị (dạ dày), noãn yêu tất (ấm lưng đầu gối), ích thận, trán khí lực, bổ ngũ lao thất thương, bổ huyết mạch! 
Mấy cái ni thì phải nhờ bồ tèo đồng môn PNH, y dược tinh thông, kiểm lại, chứ coi bộ thổi phồng phóng đại dược tính của cẩu nhục quá chừng!

Truyền thuyết nói phẩm chất thịt chó tùy thuộc màu lông chó. Trên đây có kể: nhất hoàng nhị hắc tam bạch, nhiều chuyên gia khác lại cho: nhất hắc nhị hoàng tam hoa tứ bạch. Có kẻ lại nói: hoàng cẩu vi thượng, bạch cẩu thứ chi, hắc cấu vi hạ! Thế nhưng ở Việt Nam tôi lại nghe: Nhất bạch, nhị vàng, tam khoang, tứ đốm. Chết chửa, thế thì các sư phụ cẩu xực lại ăn nói huyên thuyên, xếp hạng đẳng cấp không ăn khớp với nhau. Nói chung chú vện (hoàng cẩu) được sắp số một hay số hai, còn các chú hắc bạch hoa đốm không được đa số biểu đồng tình một cách thuần nhất! Có lẽ phẩm chất cầy tơ xếp theo màu lông thay đổi tùy theo địa dư và khí hậu? Dân Việt Lạc coi bộ sợ xui, không giám ăn chó đen, nhưng có nhiều đại tài tử lại thích nhất hắc, nhị hoàng,...trong đó hình như có linh mục C V L, Viện trưởng trường Đại học Huế, bạn đồng tình với Lỗ trí Thâm. Dạo đó ở Huế nghe nói ăn cẩu đen chữa lành bệnh lao phổi!
Nòi Việt ăn thịt chó, có Âu, Chiết, Mân, Dương, Nam...mà có lẽ Lạc Việt (dân ta đó!) dẫn đầu về nghệ thuật nấu nướng. Thât vậy, ở Tàu và Triều Tiên quanh đi quẩn lại, cũng chỉ hồng thiêu nướng, thanh đốn luộc, du bộc chiên dòn, lỗ chế đẳng chó hầm với nước dùng nhiều gia vị, hồng thự thiêu cẩu nhục chó nướng khoai (củ mài) đỏ, hoài kỉ đốn cẩu nhục thịt chó chưng cách thủy với hoài kỉ...Ngày xưa có những món thịt cầy nổi tiếng, như Giang tô Bái huyện cẩu nhục, truyền thuyết thời Tần mạt, đại tướng Phàn Khoái của Lưu Bang phát minh ra món cẩu nhục phán tử, ngon dở ra sao hậu sinh không biết! Dân Quảng đông Trạm Giang (Zhanjiang) quanh năm ăn món Bạch Thiết cẩu nhục. Dân thành thị Quảng Châu Triệu Khánh lưu hành món Quảng đông cẩu nhục bao, bao đây nồi đất, món ăn chắc là dog stew trong nồi đất! Ở Cát Lâm (Jilin) Diên Cát, thịnh hành món súp Bổ thân thang, hay thịt chó cù lao hot pot (hỏa oa), với các biến thể hồng tảo (táo đỏ, red jujube) cẩu nhục, can kháo (khốc) cẩu nhục, hương lạt (cay tê lưỡi!) cẩu nhục ti (cắt mỏng) đẳng! Hình như ở Bắc kinh hay Thượng hải, có tiệm Thực quản chuyên về món hot pot hỏa oa này. Tiệm tự hào 2 món độc đáo, nồi đất nung (sành) và thịt chó. Nồi cổ đây do tiệm làm lấy từ bao nhiêu năm, thịt chó là hương thôn phong vị, tức là chó làng, gia vị mua từ Yiyang. Chó làng đây có tiêu chuẩn hoàng giang cẩu, nấu liu riu nhỏ lữa mạn hỏa 3 tiếng đồng hồ, ăn nồi cù lao béo ngậy này rồi cởi trần đi trượt tuyết cũng không thấy lạnh! Muốn chắc bụng và tận hưởng nuớc súp, ăn thêm bún khoai mài, thự phấn...Ở Triều Tiên súp chó gọi là Boshintang, nấu có đủ gia vị của súp kim chi Doenjang, nhưng mấy cha Hàn quốc lại nói ăn súp này để chịu nóng mùa hè, thanh nhiệt khư hỏa! Dân Triều Tiên cho "cẩu nhục thang, dĩ nhiệt trị nhiệt" (súp thịt chó dùng nóng trị nóng). Thiệt là vượt qua núi Pyrénées, sự thật cũng thay đổi, như mấy ông Tây hay nói !
Đọc thực đơn trên đây của các nòi Việt bạn, thấy thật thua xa những món ăn của giống Việt Lạc, vô địch toàn diện trong văn hóa xực thịt cầy! Người Lạc Việt, chắc có thêm một giác thứ sáu ngoài ngũ giác, nên mới có khả năng để có thể tìm tòi và phát minh ra những củ giềng, hũ mẻ, mắm tôm, củ xả, lá na (mãng cầu), lá bí đao, lá lốt, lá mơ tam thể, húng chó, húng giổi, húng quế, húng lìu...vừng, đậu xanh...để tiếp đón mấy chú Cầy về Thiên quốc. Những món ba dzích thịt luộc, chả nướng, dồi, tiết canh, nhựa (rựa) mận, được hỗ trợ thêm bằng các món sườn sào, lòng sào, xáo ninh, óc chó, tái áp chảo, chả lá na...Ở Huế, nghe nói có thêm món thịt cầy xả ớt và cháo chó...Đó là chưa luận đến món giả cầy, bà con với thịt chó.
Thực đơn nghe hấp dẫn sao, chứ đâu phải chỉ có luộc, nướng, chiên, cù lao...Mà không có giềng mẻ thì thịt chó đâu phải là thịt...cầy!
Gần đây có nhiều trước tác rất hữu ích và thú vị về văn hóa thịt cầy. Nhưng Vũ Bằng tiên sinh vẫn là đại học giả số một. Đọc ông viết mới thấy mối tình da diết nóng bỏng của dân ta với các chú cầy tơ. Xin trích vài đoạn dưới đây.
"Đã định không nói, nhưng không nói không chịu được. Ờ mà nếu ca tụng thịt cầy mà mang tiếng là thiếu văn minh thì mình cũng đành chịu cái tiếng thiếu văn minh vậy, chớ nói đến miếng ngon Hà Nội mà không nói đến thịt cầy, người ta quả là thấy thiếu thốn rất nhiều. Chỉ thiếu có một người, vũ trụ bao la hiu quạnh...Huống chi lại thiếu thịt cầy thì còn vui sống làm sao?"
Cái dè dặt e lệ của Vũ tiên sinh cũng dễ hiểu. Thương chó nhưng lại thích ăn thịt cầy, nên tâm can ngo ngoe đôi chút phức cảm tội lỗi là chuyện bình thường. Cho nên ngay trong văn chương ca dao tục ngữ, dân ta cũng keo kiệt dè sẻn ca ngợi thịt cầy. Ngoài bài, gần như quốc văn giáo khoa thư, "Con gà cục tác lá chanh, Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi, Con chó khóc đứng khóc ngồi, Mẹ ơi đi chợ mua tôi đồng giềng", ít thấy các tuyệt tác! Luẩn quẩn cũng chỉ: "Đàn ông biết đánh tổ tôm / Biết ăn thịt chó, xem nôm Thuý Kiều", hoặc " Sống ở trên đời, ăn miếng dồi chó, Chết xuống âm phủ, biết có hay không?". Món chả nướng thơm phưng phức cũng chỉ được tặng vài câu ca dao:
Cô kia đi chợ đồng quê
Thấy hàng chả chó liền...lê trôn vào
Cặp này anh lấy bằng nao
Ba đồng một cặp lẽ nào lại không
Nói dối là mua cho chồng
Đi qua quãng đồng ngả nón...liền ăn"...
Có bản viết:
Ăn rồi xách nón ra về
Thấy hàng chả chó lại lê chân vào
Chả này bà bán làm sao?
Ba đồng một gắp lẽ nào chẳng không
Dối rằng lại nghĩ đến chồng
Gần đến cánh đồng ngả nón ra ăn...
Cũng có một số ít ca dao diễn tả phong tục ăn thịt chó ở đồng quê, nhưng cũng không đặc biệt, sâu sắc hay mặn nồng chi cho lắm:
Rượu tăm thịt chó nướng vàng
Mời đi đánh chén cách làng cũng đi.

Thịt chó thì phải có riềng
Thịt lợn thì phải có riêng món hành
Thịt gà cần phải lá chanh
Tía tô cà chuối mới thành ba ba.


Em ngồi gốc cầy,
Em bán thịt chó,
Em lấy tiền bó,
Em lại mua muông.
Anh mà đối đặng,
em theo luôn về nhà.
Ngược lại dân ta lại dùng chuyện ăn thịt chó để chế diễu một cách điêu đứng các đại sư phụ và tiểu sư phụ "hổ mang":
Đi tu Phật bắt ăn chay
Thịt chó ăn được, thịt cầy thì không

Em là con gái phủ Từ
Lộn chồng trả của theo sư chùa Viềng
Đói ăn thịt chó nấu riềng
Bán rau mảnh bát lấy tiền nộp cheo
Dù còn thiếu thốn bao nhiêu
Xin làng đừng có cắm nêu ruộng chùa


Nam mô một bồ dao găm
Một trăm giáo mác
Một vác dao bầu
Một xâu thịt chó ...
Một lọ mắm tôm
Một ôm rau húng
Một thúng rau răm


Tiểu tôi tiểu kính tiểu hiền
Bao nhiêu chùa chiền tiểu đốt, tiểu đi
Thịt chó tiểu đánh tì tì
Bao nhiêu chỗ lội tiểu thì, cắm chông
Nam mô xứ Bắc, xứ Đông
Con gái chưa chồng thì lấy tiểu tôi.
Ba Chệt thích ăn thịt chó nhưng cũng biếng nói. Lơ thơ lếch thếch, cũng chỉ thấy, " cẩu nhục cổn tam cổ, thần tiên trạm bất ổn ", thịt chó uốn ba cuốn, chốn thần tiên không an!, hay " văn đáo cẩu nhục hương, thần tiên yếu khiêu tường", nghe thịt chó thơm phức, thần tiên nhảy rào! (hoặc " văn đáo cẩu nhục hương, phật gia dã khiêu tường " , đây thì Phật cũng nhảy rào!). Và cũng để khẳng định (sic): "cẩu nhục thượng ất liễu chính tịch", "cẩu nhục tại lịch sử thượng thị đê cấp thực phẩm" . Ý nói trong lịch sử, thịt chó là món ăn sơ bộ của nhân loại. Thế sao mấy ông Đức, Pháp, Mỹ, vv... lại sủa gâu gâu?
"Sao mà có những người có óc vĩ đại lại đi nghĩ ra được cách làm được cái thứ dồi ngon lạ ngon lùng đến thế, một tổ hợp tiết tấu đến như thế, hở Trời? Gắp một miếng chấm muối chanh, rồi đưa cay một hơi rượu, ta thấy tất cả tiết, sụn, lá thơm và đậu xanh ở trong miếng dồi nâng đỡ nhau, đoàn kết nhau thành một khối bất khả chia lìa, không những thấy ngon lành cho khẩu cái mà thôi, nhưng lại còn làm cho ta mát gan nở ruột vì cái đẹp tinh thần do sự nhất trí tạo thành. Ai cũng đã ăn dồi lợn, và ai cũng ăn dồi của người Tây mà ta thường gọi một cách nôm na là "sốt sích". Bằng thế nào được dồi chó, phải không ông? Dồi chó làm khéo thì cái ruột phải ken kỹ cho mỏng như tờ giấy, đến lúc ăn vào nó cứ giòn tan, không mềm lừ những tiết như dồi lợn, mà cũng không bã như rơmi kiểu dồi tây; nhưng nó nhuyễn lừ đi, nhai kỹ lại hơi sừn sựt, bùi béo nhưng không ngấy, ngan ngát nhưng không nồng mùi tỏi."
Ấy ấy, Vũ tiên sinh đi hơi xa và chủ quan hơi nhiều đấy! Con heo là bạn thân số một của dân Đức. Họ ăn từ đầu đến móng, chỉ trừ lông, và làm đủ thứ sốt sích, đen có trắng có, đỏ au là sốt sích Phờ răng phục kờ. Chiều về, ngồi quán nhậu ở quảng trường trước nhà thờ lớn Cô lô (Cologne), sực mầy loại sốt sích nướng với mù tạc cay xè, tu liên miên những ly bia nâu (biere brune) nửa lít, khề khà nhìn ráng mặt trời còn rớt lại trên kính ghép màu (vitrail) cửa nhà thờ, thì cũng thấy lục phủ ngũ tạng chú ủn ỉn đoàn kết với mù tạc la de thành một tổ hợp bất khả chia lìa để tiết tấu một trường khúc không kém hùng dũng và oai nghiêm, để đối với dồi chó!
"Cái giống chó 'bẹc giê', 'pê ki noa', cái giống chó 'bát sê' cũng như giống 'phốc', nói tóm lại tất cả các giống chó tây phương, cấm có ăn thịt được. Thịt cứ dai như chão rách, mà hôi quá ăn không ra cái 'thớ' gì. Chó ăn, phải chính cống là giống chó ta, không được lai căng một tí một li ông cụ".
Khổ quá, khổ quá, gần đây các lãnh đạo tối cao Chệt đỏ, hỉ hoan xực một loại cầy nhập cảng từ Âu châu. Các ông trời con mua chó Sanh Bẹc Na (Saint Bernard) về nói là để nuôi, nhưng là để đánh chén. Nghe nói thịt dòn (crisp), thơm, bổ đủ mọi chuyện. Nước Thụy Sĩ đã làm rùm beng về xịt căng đan này, vì Sanh Bẹc Na là chó cưng vùng miền núi, biết làm nhiều việc và có tài tìm ra người gặp tai nạn tuyết đổ bị chôn vùi.
Dân ghiền cẩu nhục, thường dùng ba xi đế để chén chú chén anh, rất đúng điệu. Nhưng ăn thịt chó phải tránh uống trà tàu. Tannic Acid trong trà kết hợp với protein đản bạch chất thịt cầy, hội sinh thành sản chất gọi nhu toan đản bạch an bu min ta nin, một chất độc rất có hại cho cơ thể.
Nhậu cờ tây, hiện tại, cũng có nhiều kẻ thù. Trước tiên là bệnh chó điên, cuồng khuyển bệnh. Dân nhậu chó luộc, chó nướng và nhất là cù lao hot pot thì săng phú! Họ quyết định là với nhiệt độ và áp xuất cao vi rút bị diệt và không thể truyền nhiễm. Vi rút chó điên nẩy nở ở não và tủy sống, rất nhiều ở thóa dịch tuyến và nước miếng, nên dễ sinh lây nhiễm. Bà con coi chừng không nên ỷ y, thống kê cho thấy Việt Nam, 1996 - 2000, có gần 2.700.000 trường hợp bị chó dại cắn phải chích ngừa, 664 trường hợp đã tử vong! Bây giờ, thịt cầy lại bị SARS hăm dọa, Quảng đông đốt cả mấy chục ngàn cờ tây. Rồi tới cúm gia cầm. Thét rồi, nhân loại chắc ăn giống chi cũng hết được, e rồi chỉ còn ăn cá gỗ!
Một vài chuyện lạ liên hệ đến ăn thịt cầy. Ngày xưa có chuyện trảm mã trà, tức cho ngựa ăn trà xanh, đợi trà ngấm với dịch vị (suc gastrique), giết ngựa lấy trà từ bao tử phơi khô. Giờ ni có dzụ cà phê Kopi Luwak ở Indonesia. Số là cầy hương hảo ăn quả cà phê, không tiêu hóa được hột, hột theo phép vệ sinh thải ra ngoài. Dân trồng cà phê lượm hạt chó sa thải, rửa sạch và rang nghe thơm phức mùi cả phê và mùi...khuyển, bán trên trăm đô một pao, trong khi cà phê đắt tiền chỉ bán vài chục đô một pao! Cũng nhắc lại chuyện tu bíp hảo xực cẩu kể: Dân Kê bếch qua, Gia nã đại, thiệt cắc ké, triệt để muốn độc lập không xài Anh ngữ, nên trao bảng bán "Chien chaud". Mấy trự hảo cầy tơ tưởng bở nhào dô, hóa đây là hot dog!
Kỷ niệm chó của tôi ư? Thiếu chi. Nhất là lúc chạy tản cư những năm 45-46! Trẻ thơ đã thấy thịt cầy là bạn, huống chi trong nhà lại chả thiếu những phát minh hi hữu. Bà chị Huệ tôi gói giò chó ngon lắm, hình như ông bác cán bộ cao cấp vixi đến ăn rồi nhậu ba sợi, trên đường về đạp thẳng xe máy xuống sông nông giang! Lúc có dịp vui, ăn thịt chó, lúc buồn có tang, khi bà ngoại tôi qua đời, cũng hạ con cầy cám ơn cô bác và hàng xóm. Gần đây có bà chị về làng thăm quê, bỏ tiền đãi bà con. Hạ 3 chú vện, làm tám chiếu. Thế nhưng lệ làng, nên bà chị cũng phải ngồi chiếu dưới vì là phận liền bà! Trong khi tôi vẫn xổm tọa chiếu trên! Chuyện ấm ức là nghe thấy nấu thịt cầy đủ hết mọi dạng, kể cả cà ri chó, chưng chưa nghe nói đến phở chó!
Chuyện chó thì còn dài dòng văn tự lắm. Nhưng sao lại nói chó chết, hết chuyện, không biết có đúng không?
Gavilan Hills, ngày Ất tỵ tháng Chạp năm Ất dậu. (16 Jan. 2006)


Phụ Đính Bài Ăn Thịt Chó















Anh H ơi,
Cám ơn Anh, tuy bận hội họp liên miên mà vẫn có thì giờ đọc chuyện Ăn thịt chó, lại còn cho biết thêm nhiều tin tức thú vị khác. Tôi xin bàn thêm vài chi tiết về những điểm mà anh đã nêu ra.
Tôi chưa được thưởng thức Cà phê khuyển, nên không hiểu những người ham mê, thích thú món uống này ở điểm nào? Nói là ở mùi khuyển thì hoàn toàn không đúng được, nhưng có lẽ vị cà phê thấm từ dịch vị bao tử chó có điều chi đặc biệt chăng? Cũng như trảm mã trà và cà phê chồn Việt Nam mà anh đã đề cập đến. Tôi nhớ người Việt nam ta thường hay mắng mấy tiểu thư bị bệnh hôi nách mà không xịt thuốc là "Đồ hôi như chồn!". Như rứa thì cà phê chồn phải có đặc điểm chi, nên mới được quý trọng là thượng hạng.
Tôi nghĩ cà phê có lẽ khác trà, hương vị phải thuần túy và tinh khiết. Chuyện Cà phê thì có hai sự tích huyền thoại lịch sử. Chuyện thứ nhất, vào thế kỷ thứ 8, chú chăn cừu Kaldi, vùng cao nguyên Yémen, có đàn cừu ăn phải đám lá đỏ một loại cây lạ, nên hứng chí kích thích đùa giỡn không ngớt. Kaldi nếm thử rồi thức trắng đêm. Hắn đem chuyện kể lại cho tu viện Chaodet. Các tu sĩ nấu thử để uống, hết buồn ngủ, và có thể cầu nguyện đêm ngày. Họ đặt tên nước uống là kawah hay qahwah, tiếng Rệp (arabe); cũng từ tiếng Thỗ nhĩ kỳ kahweh. Chuyện thứ hai, một huyền thoại ngủ đứng được (un conte à dormir debout) : Tiên tri Hồi giáo Mahomet bị ốm, được Tổng thiên thần Gabriel cho uống môt liều thuốc màu đen, tỉnh giậy Mohamet đánh té 40 dũng sĩ và "tôn kính" (honorer) 40 mệnh phụ phu nhân! Cây cà phê Coffea Arabica nguyên gốc ở Kaffa, Ethiopie, miền Đông Phi, trở nên món uống dân gian với người hồi giáo bị cấm uống rượu. Bắt đầu được thực dụng ở Âu châu từ thế kỷ 16 và bành trướng mạnh mẽ toàn thế giới trong các thế kỷ 17 và 18. Người hồi giáo bị kinh Coran của Mohamet bắt buộc chịu những phong tục khác thường, uống cà phê hay trà hoặc trà bạc hà, không được dùng đường thẻ (sucre en morceau) tinh chế (raffiné). Khi tôi thiết kế làm nhà máy đường ở các nước hồi giáo, đường hung (sucre roux) phải làm thành bánh đường (pain de sucre), hình thù tương tự như viên đại bác! Người hồi giáo chế cà phê hay trà trên cục đường lớn mà uống. Phần nhiều những điều cấm của kinh Coran là dựa trên nguyên tắc vệ sinh, thời bấy giờ, tỷ dụ đại tiểu tiện trong thiên nhiên, không được chùi mà phải rửa, không ăn thịt heo,...Trung tâm hành hương Mếch ca trước đó có tiện nghi Tây phương cho đại tiểu tiện, sau đều bị dẹp phá, vì Mohamet nói không được chùi...
Tôi không được biết chuyện cao cẩu cốt (cao xương chó) ở Tàu hay Việt Nam. Kỳ vừa rồi về quê ngoại ở Thanh hóa, mấy ông anh họ đem tới nhà một ông chủ tịch xã, giới thiệu, ông nội của ông này trước nấu cao hổ cốt với Bà Ngoại tôi. Bây chừ, ông chủ tịch xã được truyền bí quyết, cũng nấu cao hổ cốt. Nể nang dây mơ rễ má, nên mua một lạng giá trên 600 đô, về ngâm vào rượu Vodka uống chẳng thấy hiệu nghiệm chi, mà còn cảm thấy dị ứng hơi ngưa ngứa...Chắc là tiền mất tật mang rồi!
Tôi có được đọc tài liệu nghiên cứu của Ông Trần Đại Sỹ về hậu duệ nhà Lý phiêu bạt qua Cao Ly vào cuối thế kỷ 11, đầu 12 (dòng nhất) và thế kỷ 13 (dòng 2). Rất nhiều tin đăng tải về Kiến-bình vương Lý Long Tường (dòng 2), con thứ 6 (hay 7 tùy theo cách chép phả tộc) của vua Lý Anh-tông, cùng tông tộc "thuyền nhân" qua Cao Ly tị nạn đầu thế kỷ 13. Tôi còn nhớ năm 57, Tổng thống Ngô Đình Diệm qua du hí ở Triều Tiên, năm sau tổng thống Lý Thừa Vãn qua chơi Việt nam. Lý Thừa Vãn, gốc người Việt, hậu duệ đời 25 của Lý Long Tường. Dạo đó tôi cũng còn nhớ chính quyền cho lệnh nhà trường để học sinh nghỉ học đi đón Lý Thừa vãn. Tuy sử sách ta không chép, nhưng nhiều tài liệu chứng tỏ Lý Long Tường, đời Thái Tôn Kiến trung thứ nhì, làm tư lệnh hải quân, sợ bị Trần Thủ Độ hãm hại, nên đem 6000 người, tướng sĩ và tông tộc bôn xuất, thuyền nhân trôi dạt vào Hwan ghae (Hoàng Hải) Tây Bắc Cao Ly. Sau khi Nam Bắc phân hai, một chi của họ Lý xuống sống ở Nam hàn, nhưng các di tích đều ở Bắc hàn. Lý Long Tường giúp Cao Ly chống xâm lăng Mông cổ (1253), được phong Hoa sơn tướng quân, giám tu quốc sử, có bia Thụ Hàng Môn (1711) ghi lại công đức. Cũng có chép lại là trong cuộc phiêu lưu, thuyền nhân trôi dạt vào đảo Đài Loan trước, chỉ một người con của Lý Long Tường là thế tử Lý Long Hiền cùng gia thuộc ở lại, không biết Tổng thống Lý Đăng Huy Đài Loan có phải là hậu duệ của Lý Long Hiền không! Nếu đúng thì thật vinh quang cho xứ Việt Nam ta, hai ông Tổng Thống gốc thuyền nhân ở hai xứ láng giềng!
Nhưng "Ông Tổ thuyền nhân" đến Cao Ly trước hết là dòng nhất Kiến Hải Vương. Ông Trần Đại Sỹ sưu tầm được một huyền sử, chép "Khi cuộc tranh quyền trong giòng họ Lý diễn ra, vợ của vua Lý Thần-tông, Cảm Thánh thái hậu mưu với tình nhân Đỗ Anh Vũ giết hết tông tộc của các hầu Thành Khánh, Thành Chiêu, Thành Hưng. Bấy giờ con Thành Quảng hầu là Kiến Hải vương Lý Dương Côn đang là đô đốc Thủy-quân, bèn đem gia thuộc xuống chiến thuyền lưu vong. Song không biết đi đâu (1150) ". Gần đây, 1996, giáo sư Triều Tiên, Pyon Hong Ke, công bố kết quả nghiên cứu về một giòng họ Lý thứ hai ở Cao Ly, Lý Nghĩa Mẫn, hậu duệ đời 6 của Lý Dương Côn. Lý Nghĩa Mẫn cũng giúp Cao Ly chống xâm lăng Khiết Đan Đại Liêu, thời vua Ui jiong (1146-1170) được phong là Tây bắc bộ binh mã sứ và thời vua My cong (1170-1179) và về sau, giữ chức Tể tướng. Sau này Lý Nghĩa Mẫn và ba con bị phe đảo chính giết, giòng Lý không tuyệt tự nhờ người anh và các con không bị hại.
Giả thuyết của tôi ăn thịt cầy là một văn hóa Bách Việt từ thời sơ khai, song song với phát triền văn minh nông nghiệp, và bành truớng đến các địa khu khác. Aên thịt cầy với giềng mẻ thì là văn hóa đặc biệt Lạc Việt. Do đó, tôi nghĩ là thịt cầy đến Triều Tiên trước thế kỷ 11-12. Khi Lý Nghĩa Mẫn và Lý Long Tường và hậu duệ thuyền nhân qua tị nạn ở Cao Ly, thịt cầy Lạc Việt đã có giềng mẻ, dồi, rựa mân, tiết canh chưa, thì không biết, có lẽ là chưa, vì không thấy để lại dấu tích. Đám thuyền nhân, quan có dân có, nếu có những vụ đánh chén ăn tục nói phét, thì giềng mẻ làm sao bỏ quên được cho dù phong thổ hay khí hậu khác quê nhà. Gần lăng mộ Lý Long Tường ở trên đồi Jul bang Bắc hàn, còn Vong quốc đàn, nơi Lý vương và con cháu đến trông về nam tưởng nhớ cố quốc. Con cháu Lý tộc trải qua 28-29 đời, năm nào cũng về Hoa sơn dịp tết để tế Tổ, như rứa thì nếu có biết giềng có biết mẻ làm sao mà quên đặng! Văn hóa xực cẩu Bách Việt cũng đi theo Phật Giáo qua Nhật bản!
Nhắc lại đây, vào dịp World Cup ở Hán thành, dân Triều Tiên "giựn" bà đầm già BB (Brigitte Bardot, tiếng Chệt phiên âm là Bích Cơ Ba Đạt) lắm. Mụ ni phản đối văn hóa cẩu nhục ẩm thực của Hàn quốc, châm biếm: "thực cẩu nhục dã man dân"! Dân dã man ăn thịt chó! Họ cho đó là một cá nhân chủng kỳ thị, vì đa số dân Hàn quốc rất ưa chuộng món nhậu mĩ vị giai hào này! Mà có kỳ thị tộc thật, bởi thế, ai cũng biết Gan béo (Foie gras) là món ăn tuyệt kỹ ở Pháp. Mà ngon thật, gan béo ngỗng hay dzịt đều ngon cả! Đã ăn rồi và có chai Sauternes làm cho dịu dọng, êm lưỡi, hoặc chai Muscat Beaumes de Venise hay Coteau du Layon để ngũ giác bừng bừng thức giấc, thì chao ôi, có thể thẳng cẳng lăn đùng ra chết không buồn, không hối hận! Thành ra, những dịp Giáng sinh hay Tết, chắc mụ đầm già BB chắc cũng xực cả vài ký Gan béo, nhưng đâu có thấy mụ than thở chống đối vụ ngỗng hay gan bị cực kỳ hành hạ đâu? Aên Gan béo so với trảm cẩu e cũng xêm xêm.
Người là giống sậy ma lanh láu cá. Từ thời Pha ra ông, có lẽ khoảng 2500 trước Tây lịch, mấy cây sậy sống vùng châu thổ sông Nil để ý thấy chim di trú ( !) migrateurs đến từ miền Bắc xuống Nam tránh rét, đặc biệt là ngỗng Bắc Âu, có thiên tính tự nhồi (s'autogaver) đồ ăn thật nhiều trước cuộc hành trình rất xa, bay ngày đêm thẳng đến Ai cập, chỉ ngừng lại miền Nam nước Pháp (Camargue) để uống nứớc. Loại chim này để tiêu hóa và dự trữ đồ ăn, có những bộ gan lớn. Mấy cây sậy sống Ai cập châu thổ sông Nil nghĩ ngay đến cách bắt nô lệ hóa chim, nhồi chim ăn quả figues liên tiếp để có bầu gan to và béo, thơm phức. Món nhậu này truyền bá qua Hy Lạp và Đế chế La Mã. Mãi đến thế kỷ 16-17, gan béo trở lại nước Pháp, do mấy ông Do Thái Trung Âu, bắt đầu nuôi ngỗng vịt vùng Tây nam nước Pháp và Alssace, và nhồi ăn với ngô do Christophe Colomb đem giống vào. Kinh đô gan béo thời xưa là Périgueux, Nérac, Strasbourg và các xứ Gascogne. Ở Pháp thường nuôi vịt lai giống (canard mulard) với vịt Barbarie, bắt vịt há họng rồi tộng nhồi đồ ăn 4 hay 5 lần một ngày, trông thảm thương, rớt nước mắt đươc. Độ ba tuần bị nhồi, gan vịt sưng vù, hiện tượng này giống như sậy thông minh nhậu quá rồi bị bệnh xơ gan, cirrhosis. Quảng cáo Pháp nói : Nhồi đồ ăn cho ngỗng vịt phải làm êm thắm (calme), khéo léo (dextérité), êm dịu (douceur), với luơng tâm nhà nghề để tránh đau khhổ (un état de souffrance évident) cho ngỗng dzịt ! Để cho lương tâm khỏi bị cắn rứt, quảng cáo còn viết : chuyện tộng nhồi ăn quá mức này (suralimenation) làm đúng theo cương lĩnh được kiểm soát đặc biệt (programme bien contrôlé) để làm gan béo ngậy, nhưng không làm hại chức năng sinh lý của gan (fonctions physiologiques) để có học tính thuận nghịch, réversibilité (sic), nghĩa là khi dừng tộng, gan sẽ trở thành bình thường. Để làm chi, vì sau ba bốn tuần tọng nhồi là a lê hấp, phi ni la vi, bộ gan bay vô tủ lạnh, rồi nhảy dzô miệng tan dịu (fondre) trên lưỡi...
Muôn sự đều là do đói mà ra cả. Nhưng văn hóa khoái khẩu các nước không giống nhau. Nhiều khi thấy lý thuyết ăn uống của phuơng Tây cũng lẩm cẩm, như khi bịa ra : Cá Tầm (esturgeons) sẽ cho caviar rất ngon nếu không bị sợ hãi (frayeur) trước khi chết ! Thôi thôi, đã cho dzô miệng rồi thì của ngon vật lạ nào cũng dzậy, ăn no bò cỡi, lắm chuyện làm chi bằng hữu ơi. Có NXH, tự Hồng Hảo Hớn ở đây, hắn sẽ nói : Dân muốn chi ? (Que demande le peuple ?)
Kính Anh,
Nguyễn Quốc Bảo
Read more…

AI Video maker

pictory

Code type Ad code