Vợ ai?

11:41 AM |

Vợ ai?


Kitô hữu hôm nay, hơn bất cứ lúc nào hết, cần phải đọc và suy ngắm cách rất cẩn thận về ý nghĩa và giá trị trích đoạn Tin Mừng mà Thánh Luca đã ghi nhận liên quan đến đời sống ơn gọi hôn nhân và giá trị của ơn gọi này qua lăng kính Ðức Tin.
Giá trị ơn gọi hôn nhân

Ðọc và suy ngắm trích đoạn Tin Mừng hôm nay, Kitô hữu chúng ta mới thấy giật mình sợ hãi, bởi vì có lẽ từ trước đến giờ nhiều người trong chúng ta đã coi thường, hoặc lơ là với trách nhiệm và ơn gọi hôn nhân của mình.
Thánh Luca đã ghi lại tỷ mỷ sự ràng buộc của lề luật, cũng như sự trung thành đối với lề luật của những người được nói đến trong trích đoạn Tin Mừng của ngài. Dĩ nhiên, câu truyện mà một số người Sađu đưa ra hỏi Chúa chỉ là câu truyện giả tưởng, và không thực tế, nhưng ý nghĩa của nó đã nói lên tính chất nòng cốt và cần thiết của đời sống hôn nhân. Ðó là, tất cả 7 người đàn ông và 1 người đàn bà trong câu truyện đã tuân giữ lề luật một cách hết sức cặn kẽ với một thái độ yêu mến cho đến chết. Và đây là điều mà Kitô hữu chúng ta cần phải suy nghĩ khi nghĩ đến ơn gọi và đời sống hôn nhân của mình.
Thật vậy, tất cả 7 người đàn ông và người đàn bà trong câu truyện đã không làm gì khác hơn là thi hành một cách nghiêm chỉnh đòi hỏi của hôn nhân mà luật Maisen đã truyền cho họ phải tuân theo. Cũng trong câu truyện này, chúng ta lại thấy hiện lên một hình ảnh trung thành, và hy sinh về lề luật.
Có thể trong 7 người đàn ông được nhắc đến trong câu truyện, chỉ người anh cả là người được tự chọn và có chọn lựa với hôn nhân của mình. Và trong một ý nghĩa nào đó, người này có thể là hạnh phúc với đời sống hôn nhân và với người đàn bà màmình đã chọn lựa. Còn lại 6 người em của ông từ người này, qua người khác việc kết hôn với một người đàn bà như vậy có thể hiểu là một hành động tuân giữ lề luật. Một cách tương tự, người đàn bà trong câu truyện có lẽ cũng chỉ một lần được hạnh phúc với chọn lựa của mình qua mối tình đầu đối với người anh cả. Còn lại, những cuộc hôn nhân sau này có thể nói đó chỉ là một cuộc hôn nhân nhằm nói lên sự ràng buộc của lề luật: “Thưa Thầy, Maisen viết rằng nếu một người qua đời để lại vợ mà không có con, thì người em phải cưới người góa phụ ấy để nối dõi cho anh mình” (Deut 25:5). Do đó, tính cách nổi bật nhất của nó chính là sự chung thủy và tôn trọng lề luật. Tất cả đều đã sống với nhau trong đời sống hôn nhân cách trọn vẹn, chung thủy cho đến chết. Ðó là điều mà hôn nhân ngày nay đang bị chao đảo, và hầu như rất nhiều người đang vấp ngã.
Ngày nay, phần đông người ta bước vào đời sống hôn nhân không sợ bị ràng buộc như một lề luật đến từ trên cao, như một ơn gọi mà là một sự lựa chọn theo ý mình, một sự tìm kiếm tư lợi, cá nhân và ích kỷ nhằm thỏa mãn cơn khái ái tình, cơn khát tình cảm, và có thể nói là để thỏa mãn sự thèm muốn và cơn khát dục vọng. Kết quả là con số ly dị của các cặp vợ chồng ngày nay càng ngày càng lên cao, đem đến một hậu quả ghê sợ là làm mất đi tính chất thánh thiện và vẻ cao cả của hôn nhân. Nó cho phép con người được từ bỏ lời thề hôn ước chỉ vì thích hay không còn thích nữa. Hậu quả sau cùng là hiện tượng trai gái sống chung, và lối sống đồng tính nẩy sinh như một cơn dịch tễ hết sức nguy hiểm đang phá vỡ tận gốc rễ nền tảng của gia đình, của hôn nhân.
Trách nhiệm ơn gọi hôn nhân
“Nếu một người qua đời để lại vợ mà không có con, thì em phải cưới người góa phụ ấy để nối dõi cho anh mình” (Deut 25:5). Song song với việc tuân giữ lề luật và những đòi hỏi của hôn nhân, câu truyện hôn nhân trong trích đoạn Tin Mừng của Luca còn nói đến một trách nhiệm hết sức lớn lao của đời sống hôn nhân là vai trò làm cha và làm mẹ. Việc sinh sản và giáo dục con cái để nối dõi tông đường.
Nếu đem ứng dụng cái nhìn trách nhiệm này vào đời sống hôn nhân của thời đại chúng ta, nhiều Kitô hữu sẽ phải hối hận, và đấm ngực ăn năn, bởi vì không những không coi trọng giá trị của hôn nhân, mà hơn nữa, còn chểnh mảng và coi thường trách nhiẹm của hôn nhân nữa. Nhiều người, đặc biệt là giới trẻ ngày nay coi việc có con, việc sinh con đẻ cái là một cái gì hết sức phụ thuộc, nếu không muốn nói là nặng nề của đời sống hôn nhân, và vì thế họ đã tìm cách trốn tránh, mặc dù đối với những Kitô hữu thì đây là một đòi buộc và trách nhiệm cần thiết đi liền với ơn gọi hôn nhân. Trong ngày thành hôn, cả hai đã thề rằng sẽ sinh sản và nuôi nấng con cái theo luật của Thiên Chúa: “Hãy sinh sản ra nhiều trên mặt đất, và hãy làm chủ trái đất” (Gn 1:28). Và con người đã cố tình lẩn tránh trách nhiệm ấy. Trốn tránh bằng cách ngừa thai. Trốn tránh bằng cách phá thai.
Nhưng như khi con người cố tình làm sai trái, đi ngược với những gì mà Thượng Ðế đã an bài, đã chỉ định thì hậu quả trầm trọng và ghê gớm đã sẩy đến. Các phương pháp ngừa thai nếu có làm cho con người tránh được những cuộc mang thai theo ý mình, thì ngược lại, đang làm cho con người phải lãnh lấy những hậu quả thê thảm của những hành động ấy. Ung thư, bệnh tật thể xác, bệnh tật tâm thần, và tâm hồn. Sự thay đổi thân xác, sự thay đổi tính tình và nhất là sự chai lỳ với tiếng nói lương tâm đang biến chất con người thời nay để trở thành như những con người máy. Mà còn tệ hơn những con người máy là vì còn mang trong mình một chút tiếng nói lương tri, và khối óc, nên luôn luôn bị giằn vặt, cắn rứt, khiến con người càng ngày càng trở nên ích kỷ, và thu gọn trong cái vỏ sò tự vệ của mình. Và để khỏa lấp, con người lại lao mình vào những đam mê, dục vọng, hoặc những gì mà mình nghĩ rằng có thể đem lại cho mình hạnh phúc.
Không muốn có con nhưng chỉ muốn hưởng thụ. Nhiều người đã vượt qua giới hạn của mình khi tự ý giết chết những bào thai mà Thiên Chúa, Thượng Ðế trao cho họ. Phải nói rằng những bào thai, những thai nhi bị giết qua hành động phá thai, là những bào thai, những thai nhi mà Thượng Ðế đã hoan hỷ ban cho cha mẹ và nhân loại. Kết quả là đã có bao nhiêu triệu triệu thai nhi ấy phải chết tức tưởi hằng giây, hằng phút, hằng giờ, hằng ngày trên khắp thế giới vì sự cố tình từ chối hảo ý Thiên Chúa muốn ban cho con người. Nếu ai đã có dịp nhìn cảnh cháy rừng và sự tàn phá kinh khủng của nó trong cuối tháng 10 và đầu tháng 11 vừa qua tại Nam California, với sự thiệt hại lên đến cả tỷ Mỹ Kim thì sẽ thấy cái hậu quả của hành động đốt rừng, hoặc dùng lửa không đúng cách như thế nào. Nhưng nếu đem so sánh với sự khủng hoảng và cơn khát ích kỷ, dục vọng đang cuồn cuộn nổi lên trong lòng con người nhất là những người cha, người mẹ, những bác sỹ, y tá hoặc bất cứ những ai đã nhúng tay vào việc giết hại các thai nhi thì mới thấy cơn cháy tâm hồn, và sự hủy hoại của nó ghê sợ, và kinh khủng đến như thế nào. Con người dám ngang nhiên chống lại Thiên Chúa. Con người lạnh lùng giết con mình. Con người nham hiểm giúp nhau giết chết những thai nhi.
Nhưng những thai nhi bị giết đã trở nên một dấu hiệu hủy diệt của con người. Lương tâm chai đá, lạnh lùng, và tàn bạo ấy đã trở thành lối sống và khí giới mà con người dùng để tự vệ và sống với nhau. Kết quả là những cuộc sống hôn nhân hôm nay thường chỉ là những cuộc sống tạm bợ, chắp nối, và là một cuộc sống địa ngục trần gian cho rất nhiều người. Ðặc biệt hơn, cái hậu quả việc làm đi ngược với luân lý, và lề luật ấy đã đem lại cho con người những đứa con mà chính họ không muốn.
Khi Thiên Chúa, Thượng Ðế ban cho thì giết bỏ, chê chối, để rồi tự chọn lấy những đứa con bệnh tật. Bệnh tật thể lý và bệnh tật tâm lý. Những hội chứng như Mental Retardation (chậm phát triển tâm lý), Down’s Syndrome, Cerebral Palsy, Epilepsy, Autism, ADHD, Asperger, và những bệnh chứng khác về tâm thần như Căng Thẳng, Tâm Thần Phân Liệt, Trầm Cảm, Ðiên Loạn, Ảo Tưởng, Ảo Giáo, Tự Tử và nhiều triệu chứng tâm thần khác phải chăng là hậu quả của việc cha mẹ đã không vâng lời Thiên Chúa, đã từ chối những đứa con mà Ngài đã ban cho để rồi tự mình tạo nên, đem vào đời những đứa trẻ như thế. Ðiều này chỉ có những ai đã ở trong hoàn cảnh hay làm việc gần gũi với những trẻ em và gia đình bệnh nhân mới hiểu rõ được cái giá mà con người phải trả khi không nghe theo lời chỉ bảo của Thiên Chúa. Khi từ chối những món quà mà Ngài trao tặng.
Ðó là chưa kể đến việc cha mẹ một khi được Thiên Chúa ban cho những người con khỏe mạnh, thông minh, nhưng lại không quan tâm đến việc giáo dục chúng để rồi đưa đẩy chúng vào con đường tội phạm, băng đảng, nghiện hút, đĩ điếm và tù tội.
Ơn gọi hôn nhân qua lăng kính đời đời
Nhưng nếu Thiên Chúa đã muốn con người tuân theo và coi trọng ơn gọi hôn nhân, làm tròn bổn phận và trách nhiệm hôn nhân của mình thì chính là vì Ngài muốn con người nhìn về cái ý nghĩa tối hậu và sau cùng của nó, đó là những giá trị đời đời của cuộc sống, của hôn nhân, và của những lề luật. Con người như Chúa Giêsu đã trả lời những người Sađucêô: “Con cái đời này cưới vợ, lấy chồng, song những ai sẽ xét đáng được dự phần đời sau và được sống lại từ cõi chết, thì sẽ không cưới vợ lấy chồng. Họ giống như thiên thần, và không còn có thể bị chết. Là con cái sự sống lại, họ là con Thiên Chúa” (Lc 20:34-36).
Con người sinh vào đời không phải là để sống mãi trên cõi đời này, lệ thuộc vào những ràng buộc vật chất, để rồi sau cùng chết đi và trôi vào quên lãng. Nếu vậy thì cuộc đời con người thật là vô dụng. Buồn nhiều hơn vui, đau khổ và nước mắt. Ngay trong cái môi trường hạnh phúc của cuộc sống là đời sống tình yêu thì như người anh cả trong câu truyện cũng không được toại nguyện, và chết đi vẫn không có người nối dõi tông đường. Và số phận nối tiếp, cũng giống như những người em của ông, vẫn mang một hoài vọng để có được một niềm vui trong hôn nhân, để chỉ mong làm tròn bổn phận với lề luật, nhưng rồi cũng không được như ý muốn. Tất cả, như Chúa Giêsu đã nói, chỉ có thể tìm thấy ý nghĩa thật sự và giá trị thật sự khi nhìn về viễn ảnh đời đời, và ở đó dù lấy vợ hay không lấy vợ, dù có chồng hay không có chồng, tất cả đều là các thiên thần của Thiên Chúa, là con cái sự sống lại, và cũng chính là con Thiên Chúa. Và chỉ trong nơi vĩnh hằng ấy, trong cái ý nghĩa sau cùng ấy, con người mới tìm được hạnh phúc.
Vợ của ai? Chồng của ai? Ai là vợ, và ai là chồng? Những ràng buộc ấy chỉ được kiện toàn và trở thành vĩnh cửu trong tầm nhìn vĩnh cửu. Và chỉ trong tầm nhìn ấy chúng ta mới có thể giữ trọn vẹn được lề luật Thiên Chúa: “Sự gì Thiên Chúa đã liên kết, loài người không được phân ly” (Mc 10:9). Và cũng chỉ trong tầm nhìn ấy, chúng ta mới sống với nhau như các thiên thần của Thiên Chúa trong chính cuộc sống mình, trong mối dây ràng buộc hôn phối, và để cùng nhau chuẩn bị cho những ngày hạnh phúc sau khi đã hoàn tất được trách nhiệm và ơn gọi làm chồng, làm vợ, làm cha, làm mẹ của mình. Thánh Phaolô Tông Ðồ đã viết cho tín hữu Corinthô: “Ai có vợ hãy sống như người không có vợ” (1Cor 7:29). Sống như không có vợ là sống như các thiên thần. Sống trong sự tương kính, yêu thương, và chung thủy. Có vợ mà sống như không có vợ, tức là sống trọn lề luật, sống với ý nghĩa và trách nhiệm hôn nhân chứ không nhằm thỏa mãn đòi hỏi của dục vọng. Sống có trách nhiệm, chứ không nhằm buông thả và tìm cầu hạnh phúc cá nhân: “Con cái đời này cưới vợ, lấy chồng, song những ai sẽ xét đáng được dự phần đời sau và được sống lại từ cõi chết, thì sẽ không cưới vợ lấy chồng. Họ giống như thiên thần, và không còn có thể bị chết. Là con cái sự sống lại, họ là con Thiên Chúa” (Lc 20:34-36).
Read more…

Những nguyên nhân gây nên sự tan vỡ trong gia đình

11:38 AM |

Những nguyên nhân gây nên sự tan vỡ trong gia đình


Giáo hội qua điều luật 1055 về Bí Tích Hôn Phối qui định rằng: "Do giao ước hôn phối, người nam và người nữ tạo nên một cuộc thông hiệp trọn cả cuộc sống. Tự bản tính, giao ước hôn phối hướng về thiện ích của đôi bạn và việc sinh sản cùng giáo dục con cái. Chúa Kitô đã nâng giao ước hôn phối giữa những người đã chịu phép rửa tội lên hàng Bí Tích."
Tiêm nhiễm bởi giáo huấn của giáo hội và theo luật tự nhiên, bất cứ một người bình thường nào, khi thật sự có ý muốn lập gia đình, cũng đều ý thức và hoạch định sẽ thành lập một gia đình đầm ấm, hạnh phúc với một vợ, một chồng và với những đứa con kháu khỉnh, ngoan ngoãn. Họ có ngờ đâu, một ngày nọ, họ phải dẫn nhau đến cửa công, đành tâm chấp nhận sự tan vỡ dở dang.
Mỗi hoàn cảnh mỗi khác. Gia đình này tan vỡ vì những lý do này, gia đình khác lại tan vỡ vì những lý do khác, gần như không có một hoàn cảnh nào giống hoàn cảnh nào. Tác giả với những kinh nghiệm làm việc trong Tòa A¨n Hôn Phối muốn chia sẻ với những gia đình đang trong hoàn cảnh khó khăn, bằng cách trình bày những yếu tố, những lý do có thể đưa đến cho hai vợ chồng trong một gia đình đang đầm ấm vui vẻ, những rạn nứt, những xung đột và cuối cùng phải tan vỡ.
1. Tình yêu và thực tế.
Thiên Chúa dựng nên con người có nam có nữ giống hình ảnh Ngài và Thiên Chúa muốn họ sống đời sống của chính Ngài, Ngài là tình yêu: "Thiên Chúa là tình yêu, chúng ta hãy yêu thương nhau như Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta".
Khi một người yêu và được yêu, họ cảm thấy hạnh phúc, họ tưởng rằng với hạnh phúc đang có trong tình yêu đó, họ có thể vượt qua mọi trở ngại lớn nhỏ trong đời sống. Trong tình yêu, họ nghĩ rằng những khó khăn, vấn đề chỉ là những yếu tố bên ngoài, chưa bao giờ họ có thể tưởng nghĩ được rằng những khó khăn, vấn đề sẽ đến từ người họ yêu thương.
Khi hai người yêu nhau, họ nghĩ rằng thế giới sẽ được chinh phục với tình yêu của họ. Họ cho rằng những người li dị nhau sau một thời gian chung sống đã không biết yêu, đã chưa bao giờ yêu nhau như họ yêu nhau. Ðôi lúc, họ cũng đã đối diện với những nguy hiểm, nhưng cuối cùng, những nguy hiểm này chỉ là những áng mây mờ trong tình yêu của họ. Một vài lần giận dỗi, một vài lúc hiểu lầm, rồi xong. Họ cảm thấy những khó khăn nếu có, sẽ được giải quyết giống như những lần hiểu lầm, giận dỗi này.
Nhìn vào đời sống của cha mẹ, những anh chị, những người lớn tuổi đang sống trong đời sống gia đình, đang vất vả với công ăn việc làm, đang bận bịu với con cái, cháu chắt, họ có cảm tưởng rằng những người này đã bị mất đi thời tuổi trẻ vì những người này đã chẳng bao giờ biết yêu, ít là yêu như họ đang yêu.
Ðời sống đáng yêu quá, đáng sống quá. Họ chỉ cần có nhau, và có nhau đã là đủ cho họ, tất cả những yếu tố khác chỉ là phụ thuộc. Có những người trẻ đang yêu nhau, một cách rất thành thật, họ lo lắng cho tương lai gia đình họ sắp thành lập. Sự lo lắng này thúc đẩy họ tìm hiểu, theo dõi các lớp dự bị hôn nhân. Qua các lớp dự bị hôn nhân này, họ chỉ thực sự chấp nhận những gì đúng với ý của họ đang nghĩ, những phần khác ý còn lại, họ cho rằng những người hướng dẫn đôi khi quá đáng, thổi phồng những vấn nạn gia đình.
Yêu là ước muốn điều tốt cho người mình yêu. Càng hiểu biết nhiều về nhu cầu, ao ước, yếu điểm và ưu điểm của người mình yêu càng dễ dàng cho tình yêu phát triển, có nghĩa là đáp ứng nguyện vọng trong đời sống của người mình yêu.
Hãy nhớ rằng những người lị dị sau một thời gian chung sống, họ đã từng yêu nhau như chính chúng ta đang yêu nhau. Hãy nhớ rằng gia đình là một đời sống thực tế, trong đó hai vợ chồng chung vai sát cánh nâng đỡ chia sẻ những khó khăn ngọt bùi với nhau. Tình yêu ban đầu vẫn còn đó trong đời sống gia đình, nhưng những vấn nạn, khó khăn đồng thời cũng xuất hiện và nếu không thực tế, chúng ta sẽ vấp ngã một cách đau đớn.
2. Những khác biệt giữa hai vợ chồng (cá tính và hoàn cảnh).
Nếu phải tìm được một người hoàn toàn chúng ta mới lấy làm chồng làm vợ thì có lẽ thời gian của một đời sống không đủ để đi tìm.
Nếu nghĩ rằng chúng ta có thể thay đổi, cảm hóa một người cho thành hoàn toàn, hoặc hoàn toàn theo ý chúng ta thì chúng ta nghĩ sai.
Nếu nghĩ rằng chúng ta có thể chiều chuộng, đáp ứng và chịu đựng được mọi nhu cầu, tính ý của người chúng ta yêu thì chúng ta cần phải xét lại.
Hai người là hai thế giới riêng biệt, với hai gia đình cha mẹ khác nhau, với anh em chị em, bạn bè khác nhau, với hai hoàn cảnh khác nhau và với hai tính tình, ý muốn khác nhau. Một cách hết sức thực tế, người ta có thể hài hòa những khác biệt này trong một khoảnh khắc nào đó, nhưng chỉ trong một khoảnh khắc mà thôi. Sự hài hòa không thể kéo dài trong suốt cuộc đời với những thăng trầm của kiếp sống, ngoại trừ một vài trường hợp hiếm hoi có thể có.
Những câu hỏi trong lãnh vực này có thể đặt ra trước ngày cưới, và ngay cả sau ngày cưới trong đời sống gia đình là: (cho cả hai người)
- Liệu tôi có thật lòng chấp nhận một cách vui vẻ, thoải mái gia đình, anh em bạn bè của người tôi yêu không?
- Nếu không chấp nhận, tôi sẽ có thái độ nào? Liệu thái độ đó có làm tổn hại đến tình yêu của hai người không?
- Người tôi yêu có hiểu mọi vấn đề như chính tôi hiểu không?
- Tôi nghĩ gì về những thói quen (tốt và không được tốt) của người tôi yêu? Tôi chia sẻ thế nào trong những thói quen này?
- Tôi có độc tài quyết định những vấn đề đời sống và ép buộc người khác phải theo không?
Dĩ nhiên sẽ còn cả trăm ngàn câu hỏi khác về những khía cạnh khác, tùy theo hoàn cảnh, cá tính và điều kiện sống của hai người đang yêu nhau đang muốn thành lập một gia đình hạnh phúc.
3. Ý thức về đời sống gia đình.
Khi hai người yêu nhau, họ nghĩ họ sẽ là tình nhân của nhau suốt đời để yêu thương chiều chuộng, làm vừa lòng nhau. Mặc dù họ đang chuẩn bị ngày cưới và ngay cả khi vừa cử hành hôn phối với nhau xong, họ vẫn chưa thật sự có ý thức rõ ràng về vai trò làm vợ và làm chồng: Họ vẫn nghĩ họ chỉ là hai tình nhân. Thật sự, khi chưa có con cái, trong những ngày tháng đầu tiên của cuộc sống chung, họ chưa có những vấn đề phải giải quyết trong thực tế của đời sống gia đình.
Một vài câu hỏi gợi ý cho những người đang yêu nhau, đang dự tính thành lập gia đình:
- Trong gia đình cha mẹ tôi, những vấn đề nào khiến cha mẹ tôi lo lắng và dành nhiều thời gian để lưu tâm nhất? Liệu tôi có thể cáng đáng, giải quyết những vấn đề này không?
- Trong những trường hợp này, vai trò người vợ hay chồng là vai trò nào, hợp tác ra sao?
- Những gia đình tôi quen biết, mẫu gia đình nào tôi sẽ bắt chước theo? Bằng cách nào?
- Nếu có những bất thuận, xung đột trong gia đình tôi, tôi sẽ có thái độ nào? Thái độ của tôi có phải là thái độ đúng không?
4. Ðộng lực kết hôn.
Thông thường, khi hai người quyết định kết hôn, động lực chính là tình yêu của họ. Nhưng cũng không thiếu những trường hợp gia đình được thành lập do những lý do khác hơn là tình yêu, hoặc tình yêu chỉ là một yếu tố kém quan trọng so với những yếu tố khác, khiến họ quyết định kết hôn, thành lập gia đình.
Thật đáng buồn, đó là chỉ khi mất hạnh phúc do những xung đột không thể hàn gắn được nữa, người ta mới kiểm điểm lại lý do đã khiến họ cử hành hôn phối, lập gia đình. Những yếu tố được liệt kê sau đây có thể là những điểm căn bản khiến một gia đình tan vỡ:
- Cử hành hôn lễ chỉ vì đã lỡ trao thân cho nhau.
- Cử hành hôn lễ chỉ vì muốn dọn ra khỏi mái nhà đang sống.
- Chỉ vì trốn một thất bại trong đường tình ái, hoặc chỉ vì muốn chứng tỏ mình thắng cuộc trên trận chiến tình cảm với người khác.
- Chỉ vì thương hại, thay vì yêu thương.
- Chỉ vì sự hấp dẫn của thân xác.
- Chỉ vì tiền bạc hay nơi nương thân, tiến thân.
5. Việc giao tiếp giữa vợ chồng trong gia đình
Khi cử hành hôn phối, cả hai người đã thay phiên nhau nói lên lời ưng thuận kết hôn và hứa sẽ yêu thương và kính trọng nhau mọi ngày trong đời sống. Yêu thương và kính trọng.
Cả hai quan niệm xưa và nay của Ðông và Tây đều thái quá: Chồng chúa vợ tôi của một vài quốc gia A¨ Châu hay "lady first" của một số quốc gia Tây Phương. Quan niệm trước coi người chồng như chủ, như Chúa. Trong vai trò làm chủ, làm Chúa, người chồng lãnh đạo, điều khiển những người trong gia đình, với họ, vợ con chỉ đóng vai trò phụ thuộc là nghe theo, là vâng lời. Trong quan niệm thứ hai, người vợ coi như mình được hưởng những qui định, bênh vực của một "cơ cấu xã hội mới", người đàn ông phải phục tùng, nhường nhịn, đóng vai trò thứ yếu trong những sinh hoạt của đời sống, ngay cả trong đời sống gia đình.
Quan niệm, hay đôi khi được coi là giáo huấn của một số quốc gia vùng A¨ Châu, do Khổng tử xướng xuất là một quan niệm lạc hậu, không thích hợp cho định nghĩa gia đình trong một xã hội văn minh của thế giới hôm nay: "Huynh đệ như thủ túc, phu thê như y phục". Theo quan niệm này, cha mẹ, anh em như thể tay chân, không thể cắt lìa; còn vợ chồng như thể quần áo, muốn thay đổi lúc nào tùy ý. Như thế, nếu cần trong một hoàn cảnh nào đó, phải theo cha mẹ anh em mà bỏ vợ hay bỏ chồng.
Tất cả những điều được gọi là quan niệm như trên, có thể một phần đóng góp vào việc xây dựng hạnh phúc gia đình, đồng thời cũng có thể góp phần như những động lực làm một gia đình tan vỡ.
Ðiều quan trọng những vợ chồng phải nhìn thấy, chấp nhận và vượt qua là trong đời sống chung sẽ có những khó khăn. Sự khó khăn đôi khi rất nhẹ nhàng và đôi lúc khác rất tàn nhẫn.
Giao tiếp trong cuộc sống chung vợ chồng là việc gặp gỡ, hàn huyên, chia sẻ những sinh hoạt cá nhân cũng như những biến cố của gia đình. Freud, một tâm sinh lý gia người Ðức khi đề cập đến cuộc sống chung của vợ chồng trong đời sống gia đình, ông đã khuyên hai vợ chồng không những coi nhau như vợ, như chồng, nhưng hai người phải coi nhau như hai người bạn thân để hàn huyên, tâm sự, chia sẻ với nhau.
Những vợ chồng, con cái có quá ít thời giờ gặp gỡ nhau dễ rơi vào tình trạng thiếu thông cảm. Họ lý luận rằng họ bận bịu nhiều với công việc làm ăn, họ lo vật chất cho gia đình. Nhưng họ phải ý thức rằng vật chất trong đời sống gia đình quan trọng thật, nhưng hạnh phúc, sự thông cảm và sinh hoạt chung giữa vợ chồng, con cái trong gia đình còn quan trọng hơn. Họ hối hận nhưng đã muộn khi nhìn thấy ngân quỹ của gia đình dồi dào, nhưng hạnh phúc, sự thân mật vui vẻ, và thông cảm trong gia đình không còn như trước nữa.
Hạnh phúc thay những gia đình biết nối kết, chia sẻ tình yêu giữa những người cùng sống dưới một mái ấm gia đình, dù trong một vài hoàn cảnh, vật chất tuy có eo hẹp, nhưng hạnh phúc thì tràn đầy.
Ngược lại, những vợ chồng, con cái có quá nhiều thì giờ để gặp nhau, thay vì không có đủ thời giờ thông cảm, chia sẻ họ lại có quá nhiều cơ hội khiến niềm vui bên nhau trở thành gánh nặng chịu đựng nhau. Bên cạnh đó, chắc chắn khi có quá nhiều thời giờ gặp nhau như thế, vật chất của gia đình sẽ không được dồi dào. Cả hai yếu tố thiếu thốn về vật chất và sự chịu đựng lẫn nhau sẽ có thể là động lực làm gia đình rạn nứt.
6. Tiền bạc.
Khi yêu nhau, người ta không kể đến vấn đề tiền bạc. Có những người còn cho rằng tiền bạc không nên chen vào tình yêu.
Qua đời sống gia đình, người ta học hỏi được nhiều tài khéo. Một trong những tài khéo đó là việc thu xếp, điều hành tài chánh. Một điều không chối cãi được, đó là trong suốt thời gian trưởng thành, một người cũng đã biết thế nào là tiền bạc, thế nào là dư dả và thế nào là thiếu thốn. Nhưng trong đời sống chung vợ chồng, một người có thể chứng tỏ khả năng của họ trong lãnh vực này, thể hiện qua việc điều hành ngân quỹ gia đình.
Những danh ngôn liên hệ có thể kể như sau:
- Tiền bạc không mua được mọi sự, nhưng không có tiền thì không mua được gì cả.
- Hạnh phúc không mua được bằng tiền.
- Tiền bạc đi vào bằng cửa trước, hạnh phúc chạy ra bằng lối sau.
Sau đây là những câu hỏi gợi ý về vấn đề tài chánh nên được những vợ chồng chia sẻ:
- Thái độ của mỗi người về vấn đề tiền bạc: Hà tiện, dè xẻn hay hoang phí?
- Tiền bạc là của chung của hai vợ chồng hay mỗi người đều giữ riêng?
- Chương trình xây dựng gia đình trong lãnh vực tài chánh như thế nào? Ai là người giữ tiền? Ai là người quyết định trong việc chi tiêu? Hai người có thỏa thuận vui vẻ trong những quyết định này không?
- Hai người có tin nhau trong lãnh vực tiền bạc không?
7. Những người chung quanh.
a. Bạn bè: Phải nhận thức được một điều là người chồng hay người vợ có thể thích hay không thích một số những người bạn của vợ họ hay chồng họ. Lý do để thích hay không thích, ưa hay không ưa là những lý do có thể nói ra, chia sẻ được, nhưng cũng có thể là những lý do không tiện đề cập đến.
Hạnh phúc của hai người trong gia đình là cần thiết nhất. Nếu vì một hay những người bạn mà hạnh phúc của hai vợ chồng bị ảnh hưởng thì hai người nên bàn hỏi, chia sẻ với nhau. Một người bạn tốt là một người bạn, khi nhận thấy sự hiện diện của mình tạo nên sự mất hài hoà của gia đình bạn, họ biết âm thầm rút lui. Câu chuyện giết chó khuyên chồng thật có ý nghĩa trong trường hợp này.
b. Bà con họ hàng: Cha mẹ, anh em, họ hàng riêng của hai người là những người đã từng sống chung, chia sẻ với họ trong suốt thời gian niên thiếu. Họ hiểu biết, thông cảm và yêu thương những người thân của họ. Nhưng những vợ chồng nên biết điều này, đó là họ yêu thương mình theo cách thế của họ. Trong nhiều trường hợp, những cách thế này không thích hợp cho hạnh phúc của một gia đình khác. Một người thân thật sự thương yêu mình, là người biết tự ẩn mình đi, khi biết rằng sự xuất hiện của họ là đầu mối hay góp phần vào sự mất vui của gia đình người họ yêu thương.
c. Xã hội: Xã hội chúng ta đang sống là một xã hội với những đổi thay nhanh chóng không ngờ. Sự đổi thay xảy ra khi một bè phái chính trị thắng cuộc. Sự đổi thay xảy ra khi người ta tranh nhau những nguồn lợi kinh tế. Tất cả những đổi thay này ảnh hưởng trên đời sống gia đình, ảnh hưởng đến tình yêu của vợ chồng.
Trong một xã hội, những qui định, áp dụng của luật pháp là những nguyên tắc chung cho tất cả mọi người. Ðành rằng luật pháp được đặt ra để bênh vực cho mỗi công dân, mỗi cá nhân. Nhưng trong nhiều trường hợp, sự bênh vực cho người này là một bản án cho người khác. Pháp luật không xét về tình cảm, mà đời sống của một gia đình hoàn toàn được xây dựng trên tình cảm. Do đó, khi một gia đình đã phải nhờ luật pháp can thiệp là lúc gia đình đó đã nằm trên bờ hố thẳm của sự tan vỡ, khó lòng hàn gắn.
Gia đình là một liên kết tình cảm, dù đông bao nhiêu, nhưng vẫn được điều hành, hướng dẫn do hai người trưởng thành. Hai người trưởng thành là vợ là chồng này có nhiệm vụ phải dung hoà những xung đột, bất hoà trong gia đình (nếu có), và chỉ nên giải quyết trong lãnh vực gia đình mà thôi trong sự trưởng thành của hai người lớn.
8. Con cái.
Con cái thể hiện hạnh phúc gia đình. Một hôn phối chỉ được coi là một gia đình đúng nghĩa khi có con cái sinh ra. Con cái củng cố, phát triển tình yêu của cha mẹ, nhưng trong một vài trường hợp, con cái cũng đã là lý do đưa đến những xung đột.
Những xung đột này có thể nhận thấy trong những lãnh vực: phương pháp giáo dục con cái không được bàn luận, đồng ý một cách nhất trí giữa hai cha mẹ; tình yêu của cha mẹ hay của một người cha mẹ dành cho những đứa con không đồng đều.
9. Vấn đề tôn giáo.
Người ta thường lý luận rằng khi yêu nhau, người ta chỉ cần hai người, và trong tình yêu, mọi khía cạnh khác đều là phụ thuộc. Một tình yêu thật là một tình yêu không phân biệt giai cấp, màu da, chủng tộc, ngôn ngữ hay tôn giáo.
Trong những khía cạnh vừa kể, tôn giáo là vấn đề quan trọng, vì tôn giáo thuộc lãnh vực tâm linh.
Khi yêu, người ta không những muốn có được vóc dáng, thân xác của người yêu mà còn muốn có được cả phần tư tưởng, những điều suy nghĩ của người yêu nữa. Nói một cách khác là khi yêu người ta muốn mọi sự của người yêu đều mang tính cách chung, thuộc về mình trong cả hai chiều hướng tâm lý: Nam giới muốn chinh phục tất cả và nữ giới muốn dâng hiến tất cả.
Hơn nữa, trong đời sống gia đình với những hoạt cảnh nhân sinh, không phải lúc nào chúng ta cũng có thể vượt qua được hết những khó khăn hay trở ngại gây nên do cuộc sống chung. Có những vấn nạn chúng ta có thể giải quyết bằng khả năng riêng tư. Có những vấn nạn khác chúng ta phải nhờ đến những khả năng ngoại tại. Có những vấn nạn mà những khả năng ngoại tại trần thế không giúp được gì, chúng ta phải nhờ đến các thần linh, đến Thượng đế, đến Thiên Chúa, tùy theo niềm tin tôn giáo của mỗi người. Ðây cũng chính là nguồn gốc sự xuất hiện của các tôn giáo: Nhu cầu tâm linh.
Nhu cầu tâm linh rất cần thiết cho con người, và càng cần thiết hơn cho đời sống chung của những cá nhân đang sống trong một gia đình. Tốt nhất là hai người cùng có chung một niềm tin.
Ở giai đoạn đầu của tình yêu, phần lớn những nhu cầu tâm linh, được đáp ứng từ chính những cá nhân yêu nhau. Do đó, trong giai đoạn này, họ không cảm thấy những đáp ứng tâm linh từ bên ngoài là cần thiết, đôi khi họ có cảm tưởng rằng họ đã đủ cho nhau và tình yêu tuyệt vời của họ phải được Thượng đế hay Thiên Chúa chấp nhận, dù là một Thượng đế hay một Thiên Chúa khó tính nhất.
Nhưng dần dà trong đời sống chung gia đình, những đáp ứng tâm linh từ hai người yêu nhau giảm cường độ và có khi mất hẳn. Lúc này là lúc nhu cầu tâm linh trở thành một thứ nhu yếu phẩm cho hạnh phúc gia đình. Làm sao hai người có thể hòa nhập được những nhu cầu tâm linh khi hai người chạy đến với hai hay nhiều Thượng đế khác nhau trong lúc họ đang đi trên cùng một con đường?
10. Vấn đề tình dục.
Tình dục đóng một vai trò quan trọng trong đời sống hôn nhân. Mặc dù quan trọng, nhưng tình dục không phải là yếu tố duy nhất khiến cho hôn phối tan vỡ hay khiến cho hôn nhân hạnh phúc. Trong nhiều trường hợp, qua sinh hoạt tình dục của vợ chồng, người ta có thể phán đoán được một phần nào hạnh phúc hay không hạnh phúc của gia đình họ. Nói một cách khác, sinh hoạt tình dục diễn tả mức độ tình yêu của hai vợ chồng.
Nhiều người nghĩ rằng đời sống tình dục của vợ chồng chỉ là động tác giao hợp của hai vợ chồng đó. Nếu nghĩ như thế, hoặc nặng hơn, nếu thực hiện ý nghĩ này, sớm muộn gì, trong đời sống vợ chồng, người này sẽ trở thành một đối tượng cho người kia thỏa mãn nhu cầu thân xác khi bị đòi hỏi. Ðừng lầm lẫn đời sống tình dục của vợ chồng với sự ham mê sắc dục, hành động tà dâm.
Tình dục trong đời sống gia đình được diễn tả trong Kinh Thánh: "Bởi lẽ đó, người đàn ông sẽ bỏ cha mẹ và khắng khít với vợ mình" (Stk.2,23). Lời cầu nguyện của Tobia trong hôn lễ của ông với Sarah: "Chúa biết rằng không phải vì lý do sắc dục mà tôi lấy Sarah đây làm vợ" (Tb.8,7). Thánh Phaolô, trong thư gửi tín hữu Côlôsê đã đề cập đến lãnh vực này như sau: "Nguyện xin bình an của Ðức Kitô làm chủ trong lòng anh em, sự bình an mà anh em đã được kêu gọi tới để làm nên một thân thể" (Col.3,15).
Những từ ngữ 'khắng khít', 'làm nên một thân thể', diễn tả một cuộc sống chung, một kết hợp không bị chia sẻ. Sự hiện diện bên cạnh nhau, diễn tả những hành động âu yếm, bày tỏ tình yêu và cuối cùng là tâm điểm 'làm nên một thân thể' của chính tình yêu của hai người. Hành động này là hành động được Thiên Chúa trao phó, ủy thác và chúc phúc trong ý hướng cộng tác với Ngài: "Hãy sinh sôi nẩy nở và hãy nên đầy dẫy trên trái đất" (Stk.1,2).
Do đó, những hành động âu yếm, những khắng khít là những cử chỉ, hành động tự nhiên phát xuất do tình yêu của hai người phải có cho nhau, nếu họ có tình yêu, nếu họ yêu nhau.
Dĩ nhiên, những hành động cử chỉ này nếu được vợ chồng ý thức để diễn tả một cách khéo léo, nó sẽ không trở thành nhàm chán và chịu đựng. Nhưng cũng cần lưu ý, xã hội ngày nay đang lạc đường, nhấn mạnh một cách quá đáng các phương thế, kỹ thuật tạo khoái cảm tình dục. Nếu không khôn khéo, người ta dễ rơi vào việc ham mê sắc dục hay tà dâm thay vì diễn tả tính yêu vợ chồng.
Một vài câu hỏi sau đây có thể có ích lợi trong vấn đề:
- Quan niệm của tôi về tình dục vợ chồng như thế nào? Có bình thường không? Và người phối ngẫu của tôi?
- Tôi có cảm thấy thoải mái trong việc diễn tả hay đón nhận những diễn tả tình dục của vợ hay chồng tôi không?
- Tôi có bàn thảo về vấn đề tình dục giữa vợ chồng với vợ hay chồng tôi một cách thoải mái không? Nếu không thì tại sao?
- Có nhiều khác biệt hay xung đột trong hành động diễn tả tình dục giữa hai vợ chồng tôi không? Nếu có, phải làm sao?
- Quan niệm của tôi và của vợ hay chồng tôi về vấn đề chung thủy trong lãnh vực tình dục như thế nào?
***
Ðời sống gia đình mang lại rất nhiều hạnh phúc. Tuy nhiên, có nhiều vấn đề cần được lưu tâm một cách nghiêm trang, đúng đắn, phải được hai người đồng tâm chấp nhận và thực hiện. Ngược lại, thái quá trong bất cứ lãnh vực nào đều đưa tới những rạn nứt và cuối cùng là sự tan vỡ không tránh khỏi.
Read more…

Vai trò làm vợ của người phụ nữ

11:34 AM |

Vai trò làm vợ của người phụ nữ

Trenbaibien copy.jpg
Người con gái khi lớn lên vào đời, tâm lý chung bao giờ cũng mơ đến một mái ấm gia đình. Mơ ước này tự nó đã gắn liền với vai trò mà người phụ nữ phải có khi bước vào đời sống hôn nhân gia đình: Vai trò làm vợ.
Trong huấn từ ngày 9 tháng 6 năm 2005, nhân dịp khai mạc Hội Nghị Giáo Sỹ của Giáo Phận Rôma, Ðức Bênêđíctô XVI đã khai triển nền tảng nhân chủng học của gia đình như sau: “Hôn nhân và gia đình không phải là một cấu trúc xã hội hời hợt, hoa trái của những tình trạng lịch sử và kinh tế đặc thù. Trái lại, vấn nạn về quyền liên đới giữa một người nam và một người nữ có căn rễ trong ý nghĩa nền tảng căn bản nhất của nhân loại, và chỉ có thể tìm được câu trả lời từ đó.”
Theo Ðức Bênêđíctô XVI, thì nguồn gốc con người được tìm thấy trong tương quan giữa nó với Thiên Chúa, vì nó được tạo dựng theo hình ảnh của Ngài. Nguồn gốc ấy bắt đầu từ Ðấng tạo thành và lan rộng đến mỗi cá nhân con người và quy tụ vào sự hợp nhất giữa người nam và người nữ. Vì thế, khi hai người nam nữ thưa “có” trong lúc cử hành hôn phối, họ diễn lại chữ “có” mà Thiên Chúa đã phán ra trong lúc tạo thành vũ trụ và con người. Nếu tiếng “hãy có” của Thiên Chúa đem con người vào hiện hữu, thì còn tiếng có của hai người yêu nhau là làm cho hiện hữu ấy được tái diễn qua ơn gọi hôn nhân. Khi Thiên Chúa dẫn Evà đến với Adong, thoạt nhìn, ông đã nhận ra đấy chính là sản phẩm phát xuất từ mình, và ông đã đón nhận nàng như đón nhận chính mình. Ông đã thốt lên: “Ðây là xương của xương tôi, thịt của thịt tôi. Nàng sẽ được gọi là “đàn bà” vì nàng được rút ra từ “đàn ông” (Gn 2:23).
Con người của Evà là do Thiên Chúa đã tạo ra từ khúc xương rút ra từ cạnh sườn của Adong trong lúc ông ngủ. Từ sự chấp nhận ấy, Thánh Kinh ghi tiếp: “Bởi thế người đàn ông sẽ bỏ cha mẹ mà luyến ái với vợ mình và cả hai sẽ trở nên một” (Gn 2:24). Vai trò làm vợ bắt nguồn từ đó. Như vậy, sự cộng tác trước nhất và lớn lao nhất của người phụ nữ vào sự hình thành thế giới chúng ta đang sống là sự cộng tác với người chồng trong vai trò làm vợ của nàng. Vì từ vai trò này sẽ dẫn đến vai trò làm mẹ và làm nhà giáo dục sau này.
- Ðồng hàng:
“Người đàn ông không được dựng nên từ người đàn bà, nhưng người đàn bà được dựng nên từ người đàn ông” (1 Cor 11:8).
Xuất phát từ Thiên Chúa, con người mang hình ảnh của Ngài, và trong đó Ngài đã tạo nên con người có nam, có nữ. Từ căn bản này, người phụ nữ trong đời sống hôn nhân được coi là người đồng hàng hay ngang hàng với chồng. Nàng là một chủ thể không thể thiếu trong đời sống của chồng. Như mặt trái và mặt phải của bàn tay, và như hai mặt của một đồng tiền. Vai trò này bắt nguồn từ Thiên Chúa, ngay bước đầu tạo dựng, và vai trò người phụ nữ được nâng lên vai trò làm vợ, “người trợ giúp đương đối” (Gn 2:18) của chồng. Ðó là lý do tại sao Thánh Phaolô đã viết: “Hỡi các người chồng, hãy yêu thương vợ mình như Chúa Kitô đã yêu thương Giáo Hội và hiến toàn thân cho Giáo Hội” (Êph 5:25).
Ngang hàng hay đồng hàng với nam giới, đặc biệt trong ơn gọi hôn nhân gia đình. Theo Thánh Kinh, người phụ nữ không có gì để thua kém và bị coi thường bởi nam giới cả. Bởi vì họ cũng phát xuất từ đàn ông, và được tạo dựng đồng hàng với nam giới. Tuy nhiên, vai trò làm vợ của nữ giới hiện nay đang có nhiều biến dạng và thay đổi. Mới đây trong kỳ bầu cử Hoa Kỳ, ngày 4 tháng 11 vừa qua, tại California khi dự luật 8 cho phép hôn nhân đồng tính bị đánh bại, đã có hàng chục ngàn người xuống đường biểu tình đòi hủy bỏ kết quả và hợp pháp hôn nhân đồng tính. Hiện tượng này đã khiến ta phải suy nghĩ nhiều về vai trò làm vợ của những phụ nữ hiện nay. Một quan niệm dẫn tới những tương quan tình yêu và tình cảm ngoài hôn nhân.
- Phụ tá:
“Người vợ không thuộc về mình những thuộc về chồng; cũng vậy, người chồng không thuộc về mình, nhưng thuộc về vợ” (1 Cor 7:4). Thánh Phaolô tuy nói về sự liên kết tính dục, nhưng cũng có thể hiểu rằng vợ và chồng đều cần thiết cho nhau và vì nhau. Ở đây, chúng ta có thể tìm thấy vai trò phụ tá, trợ lực của người phụ nữ được nhắc đến trong Thánh Kinh, đó là “người trợ giúp đương đối” (Gn 2:18) của chồng mình.
Trong Sáng Thế Ký, khi Adong gọi vợ ông là “xương của xương tôi, thịt của thịt tôi”, đó cũng là nhấn mạnh và đề cập đến chính bản thân ông hay chính ông. Xương của xương tôi, thịt của thịt tôi cũng chính là tôi, hay là tôi “mình”. Do đó, trong những cư xử thường ngày, người vợ đương nhiên có quyền và có bổn phận phải phụ lực với chồng, vì làm như vậy là nàng vui xới và giúp xây dựng chính bản thân. Ðiều này cũng được tìm thấy trong văn hóa Việt Nam, theo đó, người chồng gọi người vợ hay người vợ gọi người chồng là mình: “Mình ơi!”.
Do đó, khi người vợ làm tròn trách nhiệm trợ giúp hay phụ tá một cách tận tình, năng động, và hết sức mình là làm cho chính “mình”.
- Ðồng hành:
Ca dao Việt Nam có câu: “Thuận vợ, thuận chồng tát biển Ðông cũng cạn”. Từ ngang hàng qua vai trò phụ tá, vai trò làm vợ còn có thêm một đặc tính khác nữa, đó là cùng đồng hành với chồng. Người vợ sẽ cùng với chồng chung bước trên con đường xây dựng hạnh phúc. Và hạnh phúc của người chồng cũng là hạnh phúc của người vợ; hay ngược lại, hạnh phúc của người vợ cũng là hạnh phúc của người chồng. Trong đời sống hôn nhân không có thứ hạnh phúc cá nhân. Hạnh phúc của tôi hay của anh.
Ðặc tính đồng hành của người phụ nữ trong đời sống hôn nhân bổ túc đặc tính ngang hàng và phụ tá của vai trò làm vợ. Giữa người chồng và người vợ, trong hành trình cuộc sống, không ai đi trước ai, vì như thế sẽ có người trở thành kẻ cả, người dẫn đầu của người kia. Cũng đừng đi sau nhau, vì như thế sẽ tạo mối quan tâm, lo lắng cho nhau. Nhưng đi song song bên nhau. Cùng sánh bước bên nhau, nâng đỡ nhau tạo nên một đời sống bình quyền, bình đẳng giữa hôn nhân. Một mặt người vợ nói lên sự quan tâm, lo lắng, và săn sóc cho chồng. Mặt khác, không mặc cảm về sự thua thiệt và yếu kém của mình ngay trong gia đình và ngoài xã hội.
Người vợ và người chồng đồng hành bên nhau còn tạo nên một cuộc sống bình đẳng, dễ dàng thông cảm, và chia sẻ với nhau. Nó dẫn tới sự kết hợp và hòa đồng trong tư tưởng, lối sống.
KẾT LUẬN
Người phụ nữ khi bước vào đời sống hôn nhân trong vai trò làm vợ, nàng không những đồng hàng với chồng, mà còn là người phụ tá đắc lực và nâng đỡ chồng nữa: “Vợ ngươi như cây nho sai trái, trong nội cung gia thất nhà ngươi” (Ps 128:3). Ðức Gioan Phaolô II trong cuốn Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng, khi đề cập đến địa vị phụ nữ trong đời sống xã hội, đã viết: “Nếu kỷ nguyên chúng ta nổi bật với xã hội phóng khoáng nhờ phong trào đòi bình quyền cho phụ nữ đang lớn mạnh, thì hẳn phải nói rằng khuynh hướng này là một phản ứng đối với sự thiếu kính trọng dành cho mỗi phụ nữ”. (tr. 217, Thăng Tiến 1995). Và ngài khẳng định: “Tôi thiết nghĩ một vài phong trào đòi bình quyền cho nữ giới hiện đại bắt rễ từ sự thiếu vắng lòng tôn trọng đích thực dành cho phụ nữ” (tr. 218).
Với cái nhìn của tâm lý xã hội và tâm lý hôn nhân, mức độ tiến bộ của một dân tộc, một nền văn minh dựa trên sự bình quyền và tôn trọng vai trò của nữa giới. Theo Elizabeth Cady Stanton, “Khoa học xã hội khẳng định rằng vị trí của một người đàn bà trong xã hội đánh dấu trình độ văn minh của nhân loại”. Ðể kiểm chứng, chúng ta có thể nhìn vào mức tiến bộ của các dân tộc và các nền văn minh hiện nay trên thế giới, đặc biệt tại các nền văn hóa mà vai trò, vị thế của người phụ nữ không được thừa nhận. Thí dụ, tại một số quốc gia Hồi Giáo quá khích.
Tóm lại, vai trò làm vợ của nữ giới là một vai trò hết sức cần thiết và quan trọng đến nỗi Socrates đã viết: “Cứ việc cưới vợ đi. Nếu được người vợ tốt, bạn sẽ hạnh phúc. Ngược lại, nếu gặp phải người vợ xấu, bạn sẽ trở thành một triết gia”.
Read more…

Hãy yêu nhau bằng những lời nói ngọt ngào

11:32 AM |

Hãy yêu nhau bằng những lời nói ngọt ngào


111.jpg
Cụm từ “anh yêu em” hoặc “em yêu anh” là một trong những từ ngữ mà thông thường chúng ta vẫn nói và nghe nhiều nhất trong tình trường và trong đời sống hôn nhân. Không chỉ bằng những lời anh yêu em, em yêu anh, những ngày đầu gặp nhau, đôi tình nhân còn có trăm cách nói để làm vui lòng nhau. Nói bằng ánh mắt, qua thư từ, điện thoại. Nói bằng tặng vật. Nói bằng những vuốt ve, những nụ hôn. Nhưng rồi với sức ép của thời gian, những căng thẳng cuộc sống, và những va chạm thường nhật đã từ từ biến thái những lời yêu đương thành thứ ngôn ngữ mà cả người nói lẫn người nghe đều cảm thấy khó nghe và khó chấp nhận.
Hồng ân của Thiên Chúa:
“Nhà cửa và của cải là gia tài để lại của người cha, nhưng người vợ khôn ngoan đến từ Thiên Chúa” (Cách Ngôn 19:14). Lời này không chỉ áp dụng cho người chồng hay người vợ, mà là cả hai. Không chỉ người vợ khôn ngoan đến từ Thiên Chúa, mà người chồng tài đức cũng đến từ Thiên Chúa nữa.
Thật vậy, nhà cửa, tài sản chúng ta có thể có, nhưng người vợ hoặc người chồng hiền đức, tư cách, và khôn ngoan không phải hễ lúc nào chúng ta muốn là có. Không phải ai muốn cũng được. Do đó, nếu Thiên Chúa ban cho chúng ta người chồng đàng hoàng tử tế, người vợ đức hạnh, duyên dáng thì đó là một hồng ân cần phải trân quí. Đánh mất ân huệ của ngài rồi mong mỏi tìm kiếm trở lại là một điều rất khó. Kinh nghiệm này chúng ta có thể thấy trong những cặp vợ chồng ly dị. Việt Nam ta có câu: “Tránh vỏ dưa, gặp vỏ dừa” hay “chê thằng toét mắt, lấy thằng gù lưng”.
Theo những thống kê về đời sống hôn nhân cho biết, những người đã ly dị một lần thường là rất dễ ly dị hoặc sẽ tiếp tục ly dị những lần kế tiếp. Tiếc một điều là nhiều người sau khi ly dị đã không kiếm được người mà mình mong muốn, ngược lại, thường là ngậm đắng nuốt cay. Bởi vì hạnh phúc không đến từ bên ngoài, mà là tự nội tâm con người. Không phải là mình sửa đổi người chồng, người vợ, nhưng là sửa đổi chính mình. Thánh Phaolô đã nhìn vấn nạn này, và bằng một cái nhìn tích cực, ngài đã khuyên giáo dân Êphêsô: “Hỡi những người chồng hãy yêu thương vợ ngươi như chính mình. Hỡi người vợ hãy kính trọng chồng mình” (Eph 5:33).
Thương vợ như thương chính mình. Và như vậy phần thưởng chính sẽ là được vợ “kính trọng” lại. Thử hỏi ai mà chẳng thương mình, và ai mà chẳng o bế, và để ý săn sóc chính mình.
Nhân danh tình yêu:
Thương vợ như thương chính mình. Kính trọng chồng như coi trọng mình. Nhưng nếu không tế nhị và cẩn thận, chính khi nhân danh tình yêu mà nhiều người lại làm khổ nhau. Nhiều người thường bào chữa những lời nói sai trái của mình rằng: “Tôi chỉ muốn cho ông ấy sửa đổi thôi, nhưng thật là khó chịu và bực bội. Trăm lần như một, ông ấy không hề sửa đổi”. Hoặc: “Nói cho tức mà chừa. Vậy mà vẫn không chừa”.
Nếu để ý, chúng ta thấy ngay cái mâu thuẫn trong những câu nói đó. Có nghĩa là không phải vì thương chồng, yêu chồng, muốn sửa đổi cho chồng, mà những người vợ này đã nói năng như thế, nhưng là thương mình và yêu mình. Muốn chồng sửa đổi để mình khỏi phải bực bội hay khó chịu. Và trong những trường hợp như vậy, lời nói không những không được dịu dàng, dễ nghe mà ngược lại, mang một hình thức tiêu cực, ích kỷ, và thiếu xây dựng.
Tâm lý hôn nhân cho việc thông cảm và chia sẻ một cách cởi mở, tích cực là một hình thức tâm lý trị liệu. Nó có khả năng giải tỏa khủng hoảng trong đời sống hôn nhân gia đình. Nhưng chia sẻ và cảm thông không có nghĩa là nhiều lời. Hành động nói ở đây, do đó, được bao gồm không những bằng từ ngữ mà còn bằng chính hành động “body language” nữa.
Body language:
Thường ngày, những người chồng có thể nói tiếng “yêu” với vợ mình bằng những hành động cụ thể như giúp vợ rửa chén bát sau mỗi bữa ăn, giúp thổi một nồi cơm nếu vợ bận không làm kịp. Hoặc mỗi khi vợ đi chợ về, người chồng có thể phụ mang những thức ăn, hoặc đồ dùng giúp vợ. Đây là một cách thức cụ thể của lời nói “anh yêu em”.
Body language – nói qua hành động, còn được hiểu là một cái nháy mắt, một cái vuốt ve, một nụ hôn trên mái tóc vợ hoặc chồng. Những lời nói này chúng ta vẫn thường nói với nhau lúc mới gặp nhau, quen nhau. Nhưng đây là những lời nói có khi còn mạnh mẽ hơn bằng ngàn lời “anh yêu em” hoặc “em yêu anh” mà không thể hiện một hành động nào để minh chứng tình yêu ấy.
Ngôn ngữ:
Tiếp đến lối nói bằng từ. Có lẽ đây là lối trình bày quan niệm chung, cách riêng nữ giới hay dùng nhất. Phần đông nữ giới vẫn nghĩ rằng nói nhiều thì chồng họ sẽ thấm thía mà chừa, hoặc làm điều họ muốn. Nhưng chính vì nói nhiều quá, nên người nghe cảm thấy chán nản, bực dọc và có khuynh hướng đi tìm một sự thư giãn bên ngoài. Và do đó, vô tình nhiều người đã đẩy chồng hoặc vợ mình vào vòng tay người khác, vì khi ở ngoài, chồng hoặc vợ họ sẽ gặp những người khác ngọt ngào hơn, thông cảm hơn, tế nhị hơn.
Tóm lại, dù là nói với chồng hay vợ vẫn được coi như một nghệ thuật, cần phải để ý, tập luyện, và nhất là nói với lòng trọng kính, yêu thương người phối ngẫu. Riêng với nam giới, thái độ bình tĩnh và quảng đại luôn là một cách nói hữu hiệu nhất. Hành động bình tĩnh và lắng nghe luôn tạo điều kiện tốt cho việc cảm thông giữa hai vợ chồng.
Cuộc sống hôn nhân là một cuộc sống chung, đòi mỗi người phải nói và phải nghe nhau. Nhưng nếu nói mà không có ai nghe là độc thoại. Mà nói mà cả hai cùng nói là cãi lộn, là to tiếng. Chỉ khi nào có người nói, có người nghe lúc đó mới tạo sự cảm thông và sẽ đem lại hạnh phúc.
Khắc khẩu:
Chúng ta vẫn thường nghe nói rằng 3 năm đầu của cuộc sống hôn nhân, anh nói em nghe, hoặc em nói anh nghe. Nhưng 3 năm kế tiếp anh nói anh nghe, em nói em nghe. Và sau 3 năm ấy là những lần anh nói em không nghe mà anh cũng không nghe nhưng bà hàng xóm nghe. Hoặc em nói em không nghe mà anh cũng không nghe nhưng ông hàng xóm nghe.
Anh nói em nghe, em nói anh nghe thường được dệt bằng những lời nói tế nhị, hiểu biết và kính trọng. Những lời nói như thế được lồng vào khung cảnh yêu thương càng làm thích thú người nói và ngườii nghe. Người nói hạnh phúc vì lời mình nói được đón nghe mà người nghe ấy lại là chồng hay vợ mình. Và người nghe cảm thấy hạnh phúc, vì đó là những lời nói được nói ra do vợ hoặc chồng mình.
Anh nói anh nghe hoặc em nói em nghe, thường được dệt bằng những lời nói không đúng nơi, đúng lúc. Những lời nói thiếu nhẹ nhàng, tế nhị. Những lời nói để người nghe “nghe mà chừa”. Những lời nói làm đau lòng nhau và xoi mòn tình yêu giữa vợ chồng.
Anh nói anh không nghe, em cũng không nghe nhưng bà hàng xóm nghe. Em nói em không nghe, anh cũng không nghe nhưng ông hàng xóm nghe. Những lời nói vượt qua ràng rào và lọt vào tai những người hàng xóm. Nói như vậy không phải là nói, nhưng là chửi lộn, xào xáo, và bất hòa. Ở đây yêu tố lời nói, yếu tố khung cảnh, yếu tố âm điệu của lời nói chỉ phản ảnh sự thiếu bình tĩnh, thiếu tế nhị, và thiếu thông cảm của người nói. Đối với người nghe, thì đây là một thử thách lớn lao đối với sự bình tĩnh và tự chủ, vì những lời nói trong lúc nóng giận thường mang tính tiêu cực và thiếu xây dựng.
Người Việt Nam có câu: “Lời nói không mất tiền mua. Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”. Những lời này không chỉ áp dụng cho những hình thức giao tế xã hội, ngoài công cộng. Nếu đối với người ngoài mà ta cần phải tế nhị, tôn trọng, thì đối với vợ hoặc chồng mình thì sự tế nhị và tôn trọng lại càng phải để ý hơn. Nhưng trong thực tế, người ta dễ dàng và tỏ ra tế nhị hơn với những người ngoài, ngược lại, dễ tỏ ra cộc cằn, thô lỗ, đôi khi lỗ mãng đối với vợ hay chồng mình. Và lời bào chữa cho những hành xử thiếu trưởng thành và thiếu tâm lý ấy là “đã là vợ chồng còn giữ kẽ với nhau làm gì!” Hoặc: “Vợ chồng chúng tôi luôn luôn khắc khẩu”.
Những lời nói ngọt ngào:
Tóm lại, hạnh phúc hôn nhân, hạnh phúc lứa đôi là những gì có thật và rất thật trong cuộc sống. Nụ cười, ánh mắt, bờ môi, nụ hôn. Những vuốt ve trìu mến. Những săn sóc tỉ mỷ và nhỏ mọn. Những lời tế nhị, nâng đỡ, khích lệ, và thông cảm. Tất cả chỉ để nói lên hai chữ “yêu em” hoặc “yêu anh”. Và từ những lời nói ấy mà đời sống hôn nhân tìm được ý nghĩa và hạnh phúc.
Read more…

Thuốc ngừa thai và môi trường sống

11:29 AM |

Thuốc ngừa thai và môi trường sống

chuyen_ay_2[1].jpg
Năm 1960, thuốc viên ngừa thai tổng hợp lần đầu tiên được chấp thuận ở Hoa Kỳ. Bẩy năm sau, tạp chí Time đã đề cập đến loại thuốc viên này ngay ở trang bìa, mục đích để trình bày tác dụng lớn lao của nó về phương diện xã hội (1). Gần hai thế hệ sau, con số thống kê tại Hoa Kỳ cho hay: tại các quốc gia phát triển trên thế giới, khoảng dưới 16% phụ nữ “có bạn đời” (partnered) sử dụng thuốc viên ngừa thai; con số này không tính các phụ nữ độc thân (2).
Tuy nhiên, dù con số người sử dụng nó tương đối vẫn cao, thuốc viên ngừa thai đã được thay đổi nhiều để đáp ứng trước các khám phá mới liên quan tới hệ thống sinh sản của con người cũng như các cố gắng nhằm giảm thiểu các phản ứng phụ có tính tiêu cực của thuốc. Vì đối với bất cứ khai triển kỹ thuật hay y khoa đáng kể nào, nhất là những khai triển được đa số công chúng nhanh chóng ủng hộ, người ta thường cần tới nhiều năm, thậm chí nhiều chục năm, mới biết được trọn vẹn mọi phản ứng của thuốc. Và như đã được nhiều cuộc nghiên cứu gần đây chứng minh, nhiều câu hỏi vẫn chưa được trả lời liên quan đến các hiệu quả lâu dài và đụng tới môi sinh của những nội tiết tố (hormones) được sử dụng trong thuốc viên ngừa thai cũng như nhiều phương pháp chữa trị y khoa khác.
Khi một chất nhân tạo (synthetic) mới được tạo ra hay khi một chất tự nhiên được sản sinh ra ở một mức gia tăng đáng kể, thì phản ứng của nó có thể lâu dài và sâu rộng hơn dự đoán của các nhà sản xuất ra nó nhiều lắm. Các điển hình cho thấy rõ điều đó là chất amiăng (abestos), tức chất cách điện và trì hỏa (flame retardant) nổi tiếng có từ cuối thế kỷ 19, mà gần đây người ta mới khám phá ra là gây ung thư; rồi các chất nhựa xốp cách điện, như Styrofoam chẳng hạn, thường được dùng trong kỹ nghệ đóng gói, cần tới hàng trăm năm mới bị tiêu hủy sau khi vứt bỏ. Nói về thuốc viên ngừa thai, các thành phần chủ yếu của nó gồm các nội tiết tố nhân tạo có tên là progestins, giống hệt các nội tiết tố giới tính duy trì thai (progesterone), hoặc một mình hoặc phối hợp với estrogen. Khi sử dụng để điều trị trong thuốc viên ngừa thai hay trong kỹ thuật thay thế nội tiết tố cho trường hợp tắt kinh, những chất nội tiết tố nhân tạo này sẽ tìm đường đi vào nguồn cung cấp nước sau khi bị thải ra từ nước tiểu của bệnh nhân. Vì tính chất ô nhiễm môi trường, các chất đó được đặt tên là các hóa chất cản trở nội tiết (endocrine-disrupting chemicals, viết tắt là EDC), do sự kiện chúng đụng tới hệ thống nội tiết của người và súc vật khi tiếp xúc.
Dù tác động của nó vẫn còn đang được nghiên cứu rộng rãi, nhưng chắc một điều việc nhiễm độc đã và đang xẩy ra: nhiều cuộc nghiên cứu quốc tế cho thấy một mức độ khá cao các nội tiết tố tự nhiên và nhân tạo trong nước uống. Một nghiên cứu như thế tại Pháp cho thấy: so với các hóa chất khác, các progestins đặc biệt tỏ ra trơ trơ trước sức hủy diệt của các phương pháp xử lý nguồn nước (3).
Do việc tích lũy các chất steroids tổng hợp trong nước, phần lớn các cuộc nghiên cứu về phạm vi này đã được tiến hành bằng cách sử dụng các loài có xương sống sống trong nước như cá và ếch nhái. Các cuộc nghiên cứu trên đã cho thấy nhiều phản ứng tai hại do các nội tiết tố này gây ra cho các loài có xương sống sống dưới nước, nhất là về phương diện sinh sản của chúng (4). Một trong các cuộc nghiên cứu này tập chú vào các phản ứng của Levonorgestrel (LNG) đối với loài ếch Xenopus tropicalis. Dù hệ thống sinh sản nam xem ra không bị ảnh hưởng, nhưng các con nòng nọc nữ thì biểu hiện nhiều khuyết điểm nghiêm trọng trong việc phát triển buồng trứng và ống dẫn trứng, khiến chúng mất khả năng sinh sản (5).
Dù không thể sử dụng các nghiên cứu trên để trực tiếp lượng định tác động môi sinh của EDC đối với con người, chúng vẫn có một số lợi điểm như: khả năng kiểm soát độ dài và độ tập trung của việc tiếp xúc, và vì chu kỳ sống của các động vật kia ngắn hơn chu kỳ sống của con người nhiều, nên việc ấy sẽ giúp các cuộc nghiên cứu liên thế hệ rút ngắn được nhiều thời gian. Như câu tục ngữ “mang hoàng yến xuống mỏ than” vốn dạy (6), ta có thể dùng các cuộc nghiên cứu về thú vật như những dấu chỉ đầu tiên cho thấy các tác hại về môi sinh đối với con người và giúp ta biết hướng về các chất vô hại trong không khí ta thở, trong thực phẩm ta ăn, và ở đây, trong nguồn nước ta uống.
Tuy nhiên, phản ứng của EDC không phải chỉ giới hạn nơi loài ếch nhái sống dưới nước: nhiều cuộc nghiên cứu về chuột cũng tường trình tình trạng mất sinh sản nơi chuột cái do việc tiếp xúc với các chất progestins. Mà hệ thống sinh sản của chuột vốn rất giống với hệ thống sinh sản của người (7). Hệ thống sinh sản nữ chịu nhiều biến đổi quan trọng vào thời kỳ đầu của việc phát triển sự sống, và các biến đổi này tùy thuộc các biến cố ra dấu cho hệ nội tiết vốn mẫn cảm khi tiếp xúc với các nội tiết tố nhiễm độc của môi sinh. Một loạt các cuộc nghiên cứu của Viện Y Tế Quốc Gia (NIH) đã chứng minh rằng chuột bị nhiễm phytoestrogens, tức các estrogens của thực vật như các estrogens thấy trong các sản phẩm đậu nành, vào một thời điểm phát triển nhất định nào đó, đã chứng tỏ bị hư hại trong khả năng sinh sản (8). Ngược với chuột là loài mà thời điểm quan trọng nhất là thời kỳ sơ sinh (6 tuần đầu sau khi sinh), đường dẫn sinh sản của người đàn bà đã bắt đầu phát triển trước cả lúc sinh ra cho tới tận tuổi thiếu niên. Cho nên, điều cần là phải lượng định nguy cơ của việc tiếp xúc với EDC trong một thời gian dài, bắt đầu từ trong bụng mẹ.
Việc phụ nữ mang thai sử dụng thuốc ngừa thai nội tiết tố không được khuyến khích vì lý do hiển nhiên là họ không tạo ra trứng nữa, thêm vào đó, đứa trẻ chưa sinh cũng có thể bị nguy hại. Tuy nhiên, các chỉ dẫn ngừa thai sau khi sinh của Các Trung Tâm Kiểm Soát Bệnh Tật năm 2011 cho hay: việc sử dụng các thuốc ngừa thai chỉ dùng progestin mà thôi “có thể được khởi diễn ngay sau khi sinh con” và khuyên các bà mẹ đang cho con bú không nên sử dụng các thuốc ngừa thai tổng hợp có chứa estrogen , chủ yếu vì estrogen làm giảm lượng cung cấp sữa của người mẹ (9). Sự hiện diện của progestin trong sữa của các phụ nữ đang sử dụng thuốc viên ngừa thai chưa được chứng minh là có phản ứng tai hại đối với sức khỏe của trẻ sơ sinh, mặc dù những đánh giá này chỉ tập chú vào các kết quả ngắn hạn chứ không hẳn vào các kết quả có thể chỉ xuất hiện ở tuổi trưởng thành. Dù thế, phúc trình gần đây nhất của NIH về phản ứng của phytoestrogen (estrogen thực vật) đã cho thấy sự kiện này: tiếp xúc ngắn hạn với các estrogens thực vật, như các estrogens trong sữa trẻ em có căn đậu nành, có thể có lợi cho hệ thống sinh sản nữ về lâu về dài.
Đàng khác, nguy cơ gây hại của EDC đối với môi sinh không phải chỉ giới hạn nơi phụ nữ: tháng Mười Một năm ngoái, tờ British Medical Journal có công bố một phúc trình cho thấy: mức ung thư tiền liệt tuyến nơi đàn ông cao nhất tại các khu vực địa dư sử dụng nhiều nhất thuốc viên ngừa thai (10). Dù các tác giả nhấn mạnh rằng các khám phá của họ chỉ có tính liên quan qua lại chứ không hẳn có tính nhân quả, công trình của họ vẫn cung cấp cho ta một giả thuyết có giá trị để ta nghiên cứu thêm.
Sau cùng, việc người Công Giáo phản đối ngừa thai đặt căn bản trên một hiểu biết có tính nền tảng về ý nghĩa của sự sống con người và của mục đích sinh sản, coi chúng như thành phần trong kế hoạch của Thiên Chúa, chứ không phải như một kết luận thực tiễn nhờ khổ công nghiên cứu khoa học mà có. Dù do trực giác, người ta thấy rõ: con người, cả như những cá nhân lẫn như những xã hội, đều có lợi khi sống phù hợp với ý muốn của Đấng Tạo Hóa, nhưng trong thế giới sa đọa, ta vẫn có thể dùng các sự việc thực tiễn làm dịu các đau khổ của ta, trong đó có việc sử dụng kỹ thuật y khoa và chế biến dược phẩm. Nên nhớ: các nội tiết tố nhân tạo không phải chỉ được dùng trong thuốc ngừa thai mà thôi, mà các hợp chất hóa học được quảng cáo như thuốc ngừa thai cũng không hẳn tự chúng vô luân ngay trong nội tại. Thí dụ, một phụ nữ chưa lập gia đình và luôn biết tự chế nếu sử dụng nội tiết tố để trị chứng lạc màng trong tử cung (endometriosis) với hy vọng duy trì được sức sinh sản trong tương lai của mình thì đâu có tội lỗi gì, bất chấp hiệu năng hay phản ứng phụ của việc điều trị này. Tuy nhiên, trong một thế giới trong đó các nhóm và các cá nhân có ảnh hưởng đang càng ngày càng cổ vũ việc kiểm soát dân số, theo cung cách khiến ta phải nhớ lại phong trào ưu sinh (eugenics) của nhiều thập niên qua, ta cần nhấn làm sáng tỏ điều này: phải nghiên cứu hơn nữa để phơi bày sự thật liên quan tới các phản ứng phụ lâu dài và vô tình của việc sử dụng thuốc uống ngừa thai hết sức phổ biến hiện nay.
Theo tiến sĩ Rebecca Oas, Ph.D., Contraceptives and Environment, Zenit 16 tháng Năm, 2012. Bà là học giả của Viện HLI America, một cơ sở nghiên cứu của Human Life International. Tiến sĩ Oas chuyên về di truyền học và sinh học phân tử tại Đại Học Emory.
Vũ Văn An5/17/2012
Ghi Chú
(1) Time Magazine, April 7, 1967.http://www.time.com/time/covers/0,16641,1101670407,00.html
(2) United Nations: World Contraceptive Use (2005)http://www.un.org/esa/population/publications/contraceptive2005/2005_Wor...
(3) Vulliet E; Cren-Olive C, Grenier-Loustalot MF. Occurrence of pharmaceuticals and hormones in drinking water treated from surface waters. Environmental Chemistry Letters (2011) 9:103–114
(4) Whitacre DM. Reviews of Environmental Contamination and Toxicology, Volume 218. Spring, 2012
(5) Kvarnryda M, Grabic R, Brandt I, Berg C. Early life progestin exposure causes arrested oocyte development, oviductal agenesis and sterility in adult Xenopus tropicalis frogs. Aquatic Toxicology 103 (2011) 18–24
(6) “Canary in the coal mine”: theo Wiktionary, các thợ mỏ thường đem chim hoàng yến trong lồng xuống dưới đường hầm để nếu các hơi độc như methane hay ôxit cácbon ở đấy, chúng sẽ giết hoàng yến trước khi giết họ, một thứ bùa hộ mạng?
(7) Uzumcu M, Zachow R. Developmental Exposure to Environmental Endocrine Disruptors: Consequences within the Ovary and on Female Reproductive Function. Reproductive Toxicology. 2007; 23(3): 337–352.
(8) Jefferson WN, Patisaul HB, Williams CJ. Reproductive consequences of developmental phytoestrogen exposure. Reproduction (2012) 143 247–260
(9) Update to CDC's U.S. Medical Eligibility Criteria for Contraceptive Use, 2010: Revised Recommendations for the Use of Contraceptive Methods During the Postpartum Period. CDC, July 8, 2011.
(10) Margel D, Fleshner NE. Oral contraceptive use is associated with prostate cancer: an ecological study. British Medical Journal Open. 2011 Nov 14;1(2)
 

nguồn: 
vietcatholic.org
Read more…

Truyện mp3 "Thầy Giáo Ơi"

11:20 AM |
Nghe đọc truyện Thầy Giáo Ơi của Nguyễn Cẩm Hương.


Read more…

Cách vào Facebook mới nhất, nhanh và đầy đủ nhất (05/2012)

6:17 AM |

Cách vào facebook mới nhất và up ảnh nhanh nhất khi bị chặn cho cả 3 mạng: FPT, Viettel và VNPT (Update ngày 19/05/2012)


Rất nhiều máy tính tại Việt nam không vào được facebook từ ngày 17/05/2012 do Facebook lại đổi IP vậy nên các bạn hãy xóa hết file hosts cũ đi và cập nhật file hosts mới nhất mà Diendandulich.biz vừa cho ra lò nhé ! :ymhug:

Cũng có một số cách vào facebook như thiết lập dùng proxy hay các phần mềm fake IP như UltraSurf, Ghostsurf, AOL Desktop, VPN... tuy nhiên vì phải thông qua một máy chủ trung gian nên sẽ gặp rắc rối như tốc độ truy cập rất chậm, thủ công mỗi lần muốn vào Facebook.

Nhận xét một số cách truy cập Facebook:

Sử dụng Proxy: Tốc độ truy cập cực kỳ chậm.
Sử dụng phần mềm: Truy cập với tốc độ nhanh hơn nhưng vì phải thông qua máy chủ trung gian đặt tại Mỹ hoặc Châu Âu nên tốc độ truy cập không đạt được 100%

Nay mình giới thiệu một cách đơn giản bằng việc kết hợp Cấu hình DNS và Chỉnh sửa file Hosts sẽ giúp bạn truy cập Facebook đạt tốc độ mạng 100% mà không ảnh hưởng gì đến tốc độ mạng cũng như tốc độ truy cập các website khác.

Bước 1: Chỉnh sửa file hosts

Bạn mở file hosts nằm trong thư mục etc theo đường dẫn: C:\Windows\System32\drivers\etc bằng trình soạn thảo text Notepad và thêm vào các dòng IP bên dưới và nhấn Ctrl + S hoặc Save.

Nếu bạn không không muốn mất thời gian để tạo file hosts mới thì chỉ việc download file hosts dưới đây về giải nén và ghi đè lên file cũ trong đường dẫn trên là xong: :)

 Facebook hosts file for FPT_VIETTEL_VNPT.zip
File hosts mới nhất để vào Facebook cho cả 3 mạng internet FPT, VIETTEL và VNPT
(509 Byte) Đã tải về 34307 lần

File hosts vào Facebook cho cả 3 mạng FPT, Viettel và VNPT

66.220.149.11 facebook.com
69.171.288.74 www.facebook.com
69.171.299.76 vi-vn.facebook.com
69.171.224.39 login.facebook.com
69.171.229.72 apps.facebook.com
66.220.151.30 vupload.facebook.com
66.220.146.105 upload.facebook.com
69.171.224.53 connect.facebook.com
69.171.229.75 graph.facebook.com
96.17.180.147 static.ak.connect.facebook.com
66.220.147.55 developers.facebook.com
69.171.224.39 error.facebook.com
69.171.299.76 register.facebook.com
69.171.234.39 blog.facebook.com
65.172.31.57 profile.ak.fbcdn.net
203.106.85.169 photos-a.ak.fbcdn.net
203.106.85.59 photos-b.ak.fbcdn.net
203.106.50.19 photos-c.ak.fbcdn.net
203.106.85.42 photos-d.ak.fbcdn.net
203.106.85.163 photos-e.ak.fbcdn.net
203.106.85.59 photos-f.ak.fbcdn.net
58.27.86.80 photos-g.ak.fbcdn.net
203.106.50.25 photos-h.ak.fbcdn.net
96.17.180.136 static.ak.fbcdn.net
96.17.180.139 b.static.ak.fbcdn.net
96.63.189.59 developers.facebook.com
69.171.229.72 pixel.facebook.com
69.171.234.38 api.facebook.com
96.17.180.139 external.ak.fbcdn.net
96.17.180.162 creative.ak.fbcdn.net
96.171.227.26 chat.facebook.com
69.63.179.70 secure.facebook.com


Bước 2: Cấu hình DNS

* Cấu hình DNS cho Windows 7: Click vào icon Network Internet Access dưới thanh taskbar - Open Network and Sharing Center >> Local Area Network - Properties - chọn Internet Protocol version 4 - Propeties - chọn Use the following DNS server addresses: gõ vào khung Preferred DNS Server và Alternate DNS Server lần lượt như sau: 8 8 8 8/ 8 8 4 4 - Nhấn OK
* Cấu hình DNS cho Windows XP: Start - Control Panel - Network Connection - Properties - Internet Protocol (TCP/IP) - Properties - chọn Use the following DNS server addresses: gõ vào khung Preferred DNS Server và Alternate DNS Server lần lượt như sau: 8 8 8 8/ 8 8 4 4 - Nhấn OK.

Hướng dẫn cấu hình DNS bằng hình ảnh:

Hình ảnh
Click phải vào biểu tượng internet.

Hình ảnh
Click vào chữ Open Networks and Sharing Center.

Hình ảnh
Click vào chữ Local Area Connection (Nếu bạn dùng wifi thì click vào tên của kết nối wifi nhé)Click vào chữ Properties.

Hình ảnh
Click chọn Interner Protocal (TCP/IPv4), sau đó click vào chữ Properties.

Hình ảnh
Nhập DNS của Google như trong hình.

Cuối cùng, Bấm OK và vào Facebook chơi thôi.
Nếu thấy hữu ích thì bấm vào like bên cạnh cho mình cái nhé.
Read more…

AI Video maker

pictory

Code type Ad code