T.M. - TỪ ĐIỂN NGUỒN GỐC TIẾNG VIỆT

12:47 PM |

T.M. - TỪ ĐIỂN NGUỒN GỐC TIẾNG VIỆT



Một tài liệu tham khảo vô cùng giá trị và hữu ích 

Dân tộc ta từng bị Trung Hoa đô hộ trên một ngàn năm. Sau khi giành lại quyền tự chủ, các triều đại Việt Nam đã mô phỏng phương cách tổ chức hành chánh cùng chế độ thi cử của Trung Hoa. Vì thế về phương diện hành chánh cũng như học vấn, ta đã mượn của họ rất nhiều danh từ: Tể tướng, Thượng thư, Tham tri, Tổng đốc, Tuần phủ, Tri phủ, Tri huyện, Đốc học …, Trạng nguyên, Bảng nhãn, Tiến sĩ, Cử nhân, Tú tài … Tiền nhân ta lại chịu ảnh hưởng của Nho học, do đó, các danh từ với ý nghĩa triết lý và luân lý trong tiếng Việt cũng được mượn của Trung Hoa: tam cương (quân thần, phụ tử, phu phụ), ngũ luân (thêm huynh đệ, bằng hữu), ngũ thường (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín), tứ đức (công, dung, ngôn, hạnh)… Vì thế trong kho tàng tiếng Việt, số từ có gốc Hán nhưng phát âm khác Trung Hoa (ta thường gọi là “từ Hán Việt”) rất nhiều. Vì những lẽ ấy, nhiều người đã có nhận định sai lầm rằng “tiếng Tàu là ngưồn gốc của tiếng Việt.”

Dĩ nhiên trước khi tiếp xúc với người Trung Hoa, dân tộc ta đã có tiếng nói. Đó là tiếng nói của vua Hùng, các Lạc hầu, Lạc tướng, cùng cư dân nước Văn Lang, của những người dựng nên các nền văn minh Đông Sơn, Hòa Bình …Ngôn ngữ của những người đầu tiên xuất hiện ở đồng bằng sông Hồng, sông Mã … có nhiều điểm tương tự với ngôn ngữ của những người ở một số nơi khác trong khu vực Đông Nam Á. Trong tiếng Việt có rất nhiều từ giống tiếng Mường (gần ta nhất vì chung một gốc), nhưng cũng có nhiều từ giống tiếng Thái, tiếng Lào, tiếng Môn (được nói ở một số vùng phía Đông Miến Điện), tiếng Khmer (Cam bốt), tiếng Chăm (Chàm) … Cũng có nhiều từ giống các ngôn ngữ Mã Lai và Nam Dương. Các nhà ngữ học hiện đại đã xếp tiếng Việt, tiếng Mường, tiếng Thái, tiếng Môn, tiếng Khmer …vào ngữ tộc Nam Á (AustroAsiatic), các tiếng Mã Lai, Nam Dương … vào ngữ tộc Nam Đảo (Austronesian). Đi xa hơn, cả Nam Á và Nam Đảo lại có thể xếp chung trong đại ngữ tộc Austric vì có nhiều từ và đặc điểm giống nhau. Trong khi tiếng Trung Hoa thuộc một ngữ tộc khác hẳn, ngữ tộc Hoa Tạng (Sino-Tibetan). Đứng về phương diện ngữ vị và cú pháp, hai hệ thống Nam Á (với tiếng Việt trong đó) và Hoa Tạng (của tiếng Hoa) khác nhau rất xa.

Rất nhiều chuyên viên, học giả đã nhận thấy cùng nêu ra những điểm tương đồng và mối liên hệ giữa tiếng Việt với các ngôn ngữ Đông Nam Á khác. Đầu thập niên 1970, nhà văn Bình Nguyên Lộc hoàn thành tác phẩm Nguồn Gốc Mã Lai của Dân Tộc Việt Nam. Tuy nhiên cho tới nay mới thấy xuất hiện những nhận xét hoặc công bố lẻ tẻ, toàn bộ sự kiện chưa được trình bày một cách có hệ thống và tương đối đầy đủ. Mãi tới năm nay, 2014, mối liên hệ chặt chẽ giữa tiếng Việt và các ngôn ngữ Đông Nam Á khác mới được trưng ra một cách thật rõ và tạm đủ qua bộ Từ Điển Nguồn Gốc Tiếng Việt của bác sĩ Nguyễn Hy Vọng.

Tuy là một y khoa bác sĩ, bác sĩ Nguyễn Hy Vọng tỏ ra có khiếu về ngôn ngữ và say mê khảo cứu về ngôn ngữ từ rất lâu. Ông thông thạo nhiều ngôn ngữ Đông Nam Á và  Nam Á (tiếng Lào, tiếng Thái, tiếng Chăm, tiếng Môn, tiếng Khmer …). Khi biên soạn bộ từ điển này, ông học thêm một số ngôn ngữ khác (tiếng Mã Lai, Nam Dương …). Sự thông thạo ấy giúp công việc của ông rất nhiều. Ngay từ năm 1952, ông đã cộng tác với học giả Đào Đăng Vỹ trong việc biên soạn bộ Pháp Việt Đại Tự Điển. Qua năm 1954, hai vị có thêm Pháp Việt Tiểu Từ Điển. Tới năm 1960, ông tiếp tay học giả họ Đào trong việc  soạn Việt Nam Bách Khoa Từ Điển. Ông học hỏi thêm về ngữ học với nhà dân tộc học và ngữ học Nguyễn Bạt Tụy. Khi biên soạn bộ từ điển này, ông trao đổi thêm rất nhiều với nhà văn Bình Nguyên Lộc và giáo sư Nguyễn Đình Hòa cho tới khi các vị qua đời.

Bác sĩ Nguyễn Hy Vọng khởi công biên soạn Từ Điển Nguồn Gốc Tiếng Việt từ năm 1981, hơn 30 năm trước đây. Ở mỗi chặng, ông được sự góp ý cùng khích lệ của các tiền bối và những vị có thẩm quyền:

Học giả Đào Đăng Vỹ:
“Tôi vui mừng vô hạn khi biết công trình khảo cứu về nguồn gốc tiếng Việt của anh sắp thành tựu. Thật là một kỳ công. Tôi muốn bày tỏ lòng khâm phục sâu xa của một đàn anh, chỉ hơn anh ở tuổi mà thôi. Đó là phúc cho tương lai văn hóa dân tộc vì nó đúng là một phát minh mới, hết sức quan trọng …”

Nhà dân tộc học và ngữ học Nguyễn Bạt Tụy:
“Nếu gặp một người Mường di cư từ những vùng Hòa Bình, Thanh Hóa, nhất là Nghệ Tĩnh Bình, thì nên bám chặt lấy họ mà ghi chép ngôn ngữ. Họ gần với tổ tiên Giao của ta, và cũng gần các người Mon Khmer hơn là ta. Thêm vào đó, có một số dạng chữ Nôm xưa cũng chứng tỏ được những nhóm phụ âm “mở đầu” mà người Việt Hoa Nam xưa cũng như người Tàu không hề có…”

Nhà văn Bình Nguyên Lộc:
“Tôi rất vui mừng gặp bạn đồng hành trên một nẻo đường vắng vẻ … Từ đây có cần được ai góp ý, chắc tôi chỉ còn biết thỉnh ý của bác sĩ thôi.”

Bác sĩ Nguyễn Huy Hùng, nhà nghiên cứu các văn bản Nôm:
“Tôi xem rất kỹ tài liệu anh gửi cho tôi …Việc in cuốn sách này rất cần thiết, vì đó là một công trình nghiên cứu rất quý báu … Tôi nghĩ rằng khi sách in xong có thể sẽ giúp giải thích được những câu tối nghĩa trong cổ văn Việt, giúp đọc chính xác hơn các bản văn Nôm cổ…Thực là một đóng góp vĩ đại cho văn học nước nhà.” 

Từ Điển Nguồn Gốc Tiếng Việt là một tác phầm “có tầm vóc,”gồm ba tập, tổng cộng 2230 trang. Từ điển được biên soạn thật kỹ lưỡng, bằng tâm huyết, với nhiều kiên nhẫn và công phu. Tác giả đã giải thích một cách tỉ mỉ về ý nghĩa, nguồn gốc của 12,942 từ đơn trong Việt ngữ, cùng mối liên quan với nhiều ngôn ngữ anh em, bà con khác như các tiếng Thái, Lào, Môn, Khmer, Chăm, Mã Lai … Trong sách có trên 250 ngàn đơn vị đồng nguyên của 56 ngôn ngữ và thổ âm khác nhau của Đông Nam Á. Rất tin tưởng bộ từ điển sẽ giúp một cách hiệu quả trong việc giải tỏa mối hiểu lầm tai hại nơi nhiều người cho tới nay, “tiếng Việt phát xuất từ tiếng Tàu.”

Bộ từ điển này được sự bảo trợ danh dự của Đại thư viện Quốc gia Pháp ở Paris (Bibliothèque nationale de France). Bộ sách sẽ được giới thiệu trước độc giả và học giới Việt lần đầu tiên lúc 2 giờ chiều ngày Thứ Bảy, 31 tháng 5 năm 2014 tại Hội trường Trung tâm Công giáo Việt Nam tại Orange County, 1538 Century Blvd, Santa Ana, CA 92703.

Muốn có bộ sách, độc giả ở xa xin liên lạc về:
Email: rumthuan3235@gmail.com
neoduongtiengviet@cox.net
Địa chỉ: P.O. Box 61825
Irvine, CA 92602
Điện thoại: (714) 573-8296; (714) 653-5246; (714) 389-6049.

Cám ơn DĐTK đã có lời giới thiệu để độc giả biết đến một bộ từ điển hữu ích. 

Trước đây, chúng ta ít nhiều nghe nói rằng một số lượng lớn tiếng Việt có gốc từ tiếng Mường, Chàm, Lào, Kampuchia, Thái, Mã Lai... nhưng tìm một nguồn tra cứu đầy đủ thì không có. Bộ từ điển đồ sộ của Bs Nguyễn Hy Vọng đã đáp ứng được nhu cầu đó. 

Lời giới thiệu đồng thời lại chỉ ra rõ ràng rằng tiếng Việt của chúng ta không phải bắt nguồn từ tiếng Tàu. Chúng ta chỉ mượn một số tiếng Tàu nhưng phát âm theo giọng Việt để bổ sung và làm phong phú cho tiếng Việt. Tàu và Việt thuộc hai ngữ tộc khác hẳn nhau và người Việt cũng không phải là người Tàu ở trung nguyên lưu lạc, di cư xuống miền Nam hồi mấy ngàn năm trước. Sự minh định này rất cần thiết trong thời điểm hiện nay để góp thêm sức mạnh tinh thần và lòng ái quốc của toàn dân Việt chống lại bọn bành trướng xâm lược Trung Cộng đang lấn biển lấn đất, hăm he đưa nước ta trở lại thời Bắc thuộc, nô lệ cho Tàu.

Read more…

NƯỚC ĐẠI VIỆT TA THỜI TRẦN ĐÃ "THOÁT TRUNG" NHƯ THẾ NÀO?

10:04 PM |

NƯỚC ĐẠI VIỆT TA THỜI TRẦN ĐÃ "THOÁT TRUNG" NHƯ THẾ NÀO?




NƯỚC ĐẠI VIỆT TA THỜI TRẦN
ĐÃ “THOÁT TRUNG” NHƯ THẾ NÀO?
(Bài 1)
Đào Tiến Thi
Giữa lúc này, nếu chỉ nghĩ sao đuổi được cái giàn khoan láo xược của Trung Cộng, mà không nghĩ đến căn nguyên sâu xa của nó, thì dẫu đuổi được cái giàn khoan này lại có cái giàn khoan khác xuất hiện và nhiều vấn đề rắc rối về kinh tế, chính trị, xã hội khác nữa cho Việt Nam.Chiến lược “tàm thực” (tằm ăn dâu) của Trung Cộng sẽ từng bước được thực thi. Sinh mạng dân tộc Việt Nam đã mỏng manh lại ngày càng thêm mỏng manh.
Cho nên cách đặt vấn đề của Quỹ Phan Châu Trinh trong hội thảo ngày 5-6-2014 “Làm thế nào để thoát Trung?” là rất trúng và đúng. Chỉ có thoát Trung thì đất nước mới phát triển, và đất nước có phát triển thì mới có độc lập thực sự. Và cũng chỉ có thoát Trung – thoát khỏi thân phận con tin – thì cũng mới có tình hữu nghị Việt – Trung đích thực.


Trước khi bàn vào vấn đề, xin lưu ý một điểm: nhiều bạn trẻ hiện nay cứ tưởng Việt Nam đã bị trói vào Trung Cộng từ thời hai nước theo chế độ cộng sản. Sự thực cái dây trói hiện nay là trói lần thứ hai. Chứ trước hội nghị Thành Đô (ngày 3 và 4-9-1990) về “bình thường hoá quan hệ” giữa hai nước, trong một khoảng thời gian dài 12 năm (1978 – 1990), tức là từ khi nhà cầm quyền Trung Cộng gây ra vụ “Nạn kiều” vu cáo Việt Nam “khủng bố, bài xích, xua đuổi người Hoa” tháng 4-1978 cho đến trận Trung Cộng đánh chiếm Gạc Ma của Việt Nam tháng 3-1988,chúng ta chẳng còn phải dính líu, nợ nần gì với Trung Cộng cả. Trong suốt thời gian nói trên hai nước đã là kẻ thù không đội trời chung của nhau. Ngoài cuộc chiến tranh biên giới 2-1979 với 60 vạn quân Trung Cộng tham gia còn có cuộc tranh giành đẫm máu cao điểm 1509 (Lão Sơn) từ2-1984 – 7-1984 và vô vàn cuộc xung đột nhỏ trên biên giới Trung – Việt. Ấy là chưa kể những năm này hai nước không ngày nào không chửi nhau trên sóng phát thanh. Có năm Tết (theo trí nhớ của tôi là năm 1987), khó mà nghe được đài tiếng nói Việt Nam trên làn sóng trung bình, vì đài phát thanh Bắc Kinh phát đúng vào tần số của đài tiếng nói Việt Nam, mà sóng của họ lại mạnh hơn. Riêng Trung Cộng còn có hệ thống loa đặt dọc biên giới, chửi Việt Nam ra rả suốt ngày.
Để “thoát Trung”, chúng ta có hai cách (và nên dùng cả hai cách):
- Tiếp nhận những giá trị hiện đại của văn minh nhân loại.
- Học tập những kinh nghiệm trong truyền thống của cha ông.
Bài này đi vào một phần của cách thứ hai: việc “thoát Trung” thời Trần.
Ta thường nói Đại Việt thời Trần ba lần đánh tan quân xâm lược Mông – Nguyên, đó là cách nói tắt; nói chính xác, lần thứ nhất (1258) là đánh thắng đế quốc Mông Cổ và hai lần sau (1285,1288), đánh thắng đế quốc Nguyên. Triều Nguyên là một “mảnh vỡ” của đế quốc Mông Cổ, thiết lập ở Trung Quốc sau khi Hốt Tất Liệt (Khubilai) đánh thắng triều Tống. Triều Nguyên cai trị Trung Quốc từ 1271 đến 1368, bị Trung Quốc hoá, hoàn toàn trở thành một triều đại của phong kiến Trung Quốc, được tính vào lịch sử Trung Quốc chứ không phải vào lịch sử Mông Cổ. Triều Nguyên áp sát ta gần 100 năm. Việc thoát Trung thời Trần chủ yếu là “thoát Nguyên”.
Có thể nói luôn: ông cha ta thời Trần không bao giờ tự trói mình với nhà Nguyên và còn luôn tìm cách tránh không để nhà Nguyên lừa trói nhà nước Đại Việt vào họ.
Nếu không kể việc ba lần đánh cho giặc Mông Nguyên tơi bời thì việc “thoát Trung” của nhà Trần (cũng như ngày nay) gồm hai mặt: nội trị và ngoại giao. Để đáp ứng nhu cầu nóng bỏng những ngày này, xin trình bày phần ngoại giao trước.
I- CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO
1. Song hành giữa cứng rắn và mềm dẻo
Vào lúc nhà Trần thiết lập thì trên thảo nguyên Trung Á mênh mông cũng xuất hiện một đế quốc hùng mạnh và hung hãn vào bậc nhất lịch sử nhân loại: đế quốc Mông Cổ. Ngay từ đầu thế kỷ XIII, quân Mông Cổ đã tấn công các nước Kim, Tây Hạ (bắc và tây Bắc Trung Quốc ngàynay) và hàng loạt quốc gia ở Trung Á. Năm 1252, quân Mông Cổ tấn công và tiêu diệt nước Đại Lý (vùng Tứ Xuyên, Vân Nam của Trung Quốc ngày nay, trong đó Vân Nam liền biên giới vớiĐại Việt. Cuối năm 1257, tướng Mông Cổ là Ngột Lương Hợp Thai (Uriangkhadai), viên tướngđã từng chinh chiến ở các nước Liêu, Ba Tư, Ba Lan, Hungary, được coi là bách chiến bách thắng, đưa thư dụ hàng Đại Việt.
Trước thế hung hãn của giặc, nhà Trần chẳng những không đầu hàng mà còn bắt giam sứ giả để tỏ rõ quyết tâm chống giặc. Khi quân Mông Cổ tràn vào Thăng Long thì thấy ba tên sứ giả vẫn đang bị trói giam trong ngục và một tên đã chết.
Trong khoảng từ 1258 – 1285, trước khi bước vào cuộc kháng chiến lần thứ hai, là thời kỳ đấu tranh ngoại giao. Giai đoạn đầu, quân Mông Cổ rút hết về nước để tham gia cuộc nội chiếnnên giả vờ giao hảo với nước ta. Thư của Hốt Tất Liệt năm 1261 viết: “Phàm mũ áo, điển lễphong tục cứ theo chế độ cũ của nước mình, không phải thay đổi”. Hoặc: “Ta đã cấm các biên tướng Vân Nam không được xâm phạm bờ cõi, quấy nhiễu nhân dân”. (Nghe cứ na ná như là “mười sáu chữ vàng”!)
Vua tôi nhà Trần không hề tin vào những lời lẽ trên, cũng không tự cao vì mới chiến thắng,nên đã gấp rút tuyển quân, chế tạo vũ khí, sắm chiến thuyền và luyện quân để đề phòng quân giặc quay trở lại. Trong khoảng gần 30 năm hoà hoãn, không lúc nào buông lơi cảnh giác.
Từ 1267, quan hệ với Mông Cổ căng thẳng dần, đặc biệt từ 1271, khi triều Nguyên được thành lập ở Trung Quốc. Nhà Nguyên đưa ra rất nhiều yêu sách mà nếu thực hiện đầy đủ thìđồng nghĩa với việc nộp dần nền độc lập. Nhưng để tránh đụng đầu sớm với kẻ thù, vua Trầnmột mặt nhân nhượng những gì có thể, mặt khác kiên quyết từ chối những đòi hỏi quá đáng củavua Nguyên. Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục ghi lại khá nhiều sự việc ứng phó khôn ngoan của vua quan nhà Trần. Ví dụ vua Trần nhận sắc phong “An Nam quốc vương” của vua Nguyên, chứ không chịu lạy chiếu thư của vua Nguyên Hốt Tất Liệt. Thư phúc đáp của vuaTrần viết: “Sứ thần không nên làm lễ ngang hàng với một nước. Vả lại, trước đây thiên triều đã có việc dụ cho mọi việc trong nước tôi cứ theo tục cũ của bản quốc. Thế thì việc nhận chiếu chỉ của thiên triều đem kính để tại chính điện, còn vua thì lui xuống nhà riêng, đấy là điển cũ của nước tôi đấy”.
Tháng 4-1272, nhà Nguyên sai sứ sang hỏi mốc giới cột đồng trụ ngày trước. Vua Trần cũng giả vờ sai Lê Kính Phu đi xem xét xét lại. Kính Phu tâu: “Chỗ cột đồng do Mã Viện dựng lên lâu ngày bị chìm lấp, nay không thể biết ở chỗ nào được”. Từ đó về sau vua Nguyên cũng không hỏi đến nữa.
Vua Trần cũng luôn lấy cớ “có bệnh” để không bao giờ sang chầu vua Nguyên. Chịu cống nạp phẩm vật (bạc vàng, ngọc lụa) chứ không cống nạp nho sỹ, thầy thuốc và thợ thủ công. Chịu phận làm “tôi” nhưng không cung cấp gạo cho quân Nguyên khi quân Nguyên đi đánh Champa. Nhà Trần không cấm các thương gia người Hồi Hột (Uyghur/ Duy Ngô Nhĩ) vào buôn bán nhưng cấm dân ta không được giao dịch với bọn này để cô lập chúng, khiến chúng không có đất để hoạt động gián điệp trên đất nước ta. Và khi cần thì nhà Trần tìm cách khống chế bọn này, không cho chúng về nước để cung cấp tin tức. Nhà Trần còn tìm cách mua chuộc các đạt lỗ hoa xích (chứ quan giám sát của nhà Nguyên đặt ở nước ta) và các quan lại Mông Cổ cai trị vùng Vân Nam, không để chúng can thiệp vào các chính sách của Đại Việt.
2. Thiết lập liên minh Việt – Chăm chống xâm lược
Champa (Chăm hay Chiêm Thành) là một nước phía nam Đại Việt, biên giới cho đến hồi cuối thế kỷ XIII là khoảng phía bắc tỉnh Quảng Trị này nay.
Thời chống Tống dưới triều Lý, trước kế hoạch xâm lược của nhà Tống, trong đó có việc lôi kéo Champa tấn công từ phía Nam, Lý Thánh Tông thân chinh (cùng đại tướng Lý Thường Kiệt) đánh Champa, phá tan lực lượng quân sự của Champa, bắt sống vua Chăm. Sau đó vua Chăm phải dâng đất Bố Chính, Ma linh, Địa Lý (nam Quảng Bình và bắc Quảng Trị ngày nay) để được trả về. Từ nửa sau thế kỷ XII, nhà Lý đi vào con đường suy bại, vua Chăm thường cho quân ra cướp bóc miền biên giới và ven biển phía Nam cùng yêu sách đòi lại đất cũ.
Vào đầu đời Trần, vua Chăm Jaya Paramesvaravarman (ở ngôi 1220 – 1250) vẫn giữ thái độ kỳ thị Đại Việt, thân thiện Chân Lạp. Năm 1252, vua Trần Thái Tông đem quân đánh Champa, hạ kinh đô, bắt tù binh rồi rút quân về. Em Jaya Paramesvaravarman lên kế ngôi, miễn cưỡng cống nạp Đại Việt. Năm 1265, Indravarman IV lên ngôi. Ông bỏ Chân Lạp đang suy thoái, quay sang thân thiện với Đại Việt đang trên đà hưng thịnh.
Đầu năm 1280, sau khi chiếm xong đất Trung Quốc, Hốt Tất Liệt tiếp tục bành trước về phương Nam. Nhưng vì đã từng thua Đại Việt hồi 1258 nên lần này Hốt Tất Liệt tính đánhChampa trước nhằm tạo bàn đạp tấn công Đại Việt và các nước Đông Nam Á. Nhà Nguyên bắt vua Trần cho mượn đường tiến đánh Chăm, nhưng vua Trần cự tuyệt. Vua Nguyên lại đòi vua Chăm sang chầu nhưng vua Chăm cũng không đi.
Tháng 12-1282, quân Nguyên do Toa Đô chỉ huy tấn công thành Quy Nhơn. Quân Chăm nhờ có sự chuẩn bị kĩ, đặc biệt có thành gỗ và máy bắn đá, đã đánh trả quyết liệt. Nhưng trước hoả lực mạnh của quân Nguyên, giữa tháng 2-1283, thành vỡ. Tuy nhiên, vua Chăm rút quân lên miền rừng núi, tiếp tục kháng chiến.
Quân Nguyên tấn công thành Đồ Bàn (Bình Định) là kinh đô của Champa lúc bấy giờ. Quân Chăm bỏ thành, rút lên vùng rừng núi, đồng thời cầu cứu Đại Việt. Nhà Trần cho 2 vạn quân và 500 chiến thuyền vào giúp Champa.
Giữa năm 1283, vua Nguyên sai A Lý Hải Nha (Arickhaya) chỉ huy 3 vạn quân tăng viện cho Toa Đô đồng thời lại bắt vua Trần cung cấp lương thực và cho mượn đường qua Đại Việt nhưng nhà Trần vẫn từ chối. Quân Nguyên buộc phải đi đường biển để vào Champa do đó rất chậm. Chờ mãi viện binh chưa đến, lại bị quân Chăm tấn công, Toa Đô buộc phải lui quân ra phía bắc Champa, giáp biên giới Đại Việt để chờ quân tiếp viện. Tại đây, quân Toa Đô tiếp tục bị quân Champa bao vây, cô lập.
Đầu năm 1285, quân Nguyên do Thoát Hoan chỉ huy tiến đánh Đại Việt. Toa Đô rút một bộ phận đánh ra Thanh Hoá nhằm hội với quân Thoát Hoan. Bộ phận còn lại tiếp tục đóng ở đâynhưng đến khi quân Nguyên thua ở Đại Việt thì cũng phải rút nốt.
Như vậy cuộc kháng chiến của Champa (có sự trợ sức của Đại Việt) đã góp phần trì hoãn cuộc tiến công của quân Nguyên vào Đại Việt và đến lượt mình, cuộc kháng chiến của Đại Việt lại góp phần giải phóng hoàn toàn Champa.
Trong cuộc kháng chiến lần hai và ba, ngoài liên minh với Champa cũng cần kể thêm ở đây,còn có 1200 quân phủ Tư Minh (Quảng tây) không chịu khuất phục quân Nguyên, sang quy phục nước ta và được nhà Trần chấp nhận (1283).
Mối liên minh Việt – Chăm trong chống xâm lược Nguyên còn tạo tiền đề cho quan hệ hữu nghị giữa hai nước về sau. Năm 1301, nhân có sứ bộ Champa từ Đại Việt về nước, Thượng hoàng Trần Nhân Tông đã sang chơi Champa – một cuộc viếng thăm thân mật, không chính thức – kéo dài tám tháng liền (tháng 3-1301 – tháng 11-1301). Chính trong cuộc viếng thăm này, Trần Nhân Tông đã hứa gả công chúa Huyền Trân cho vua Chế Mân. Năm 1306, lễ cưới được tổ chức. Sính lễ gồm rất nhiều vàng bạc và đất đai hai châu Ô, Lý (nam Quảng Trị vàThừa Thiên – Huế ngày nay). Ngay năm sau nhà Trần cho sáp nhập hai châu này vào Đại Việt với tên gọi Thuận và Hoá (Thuận Châu, Hoá Châu).
Read more…

TẾT ÔNG TÁO - TRUYỀN THUYẾT VÀ NGHI LỄ

3:59 PM |




Truyền thuyết về Táo Quân

Trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam, Táo quân có nguồn gốc từ ba vị thần Thổ Công, Thổ Địa, Thổ Kỳ của Lão giáo Trung Quốc nhưng được Việt hóa thành huyền tích "2 ông 1 bà" - vị thần Đất, vị thần Nhà, vị thần Bếp núc. Tuy vậy người dân vẫn quen gọi chung là Táo Quân hoặc Ông Táo.

Ở Việt Nam, sự tích Táo Quân được truyền khẩu, rồi ghi chép, do đó có những sự khác nhau về tình tiết, nội dung chính được tóm tắt như sau:

Trọng Cao có vợ là Thị Nhi ăn ở với nhau đã lâu mà không con, nên sinh ra buồn phiền, hay cãi cọ nhau. Một hôm, Trọng Cao giận quá, đánh vợ. Thị Nhi bỏ nhà ra đi sau đó gặp và bằng lòng làm vợ Phạm Lang. Khi Trọng Cao hết giận vợ, nghĩ lại mình cũng có lỗi nên đi tìm vợ. Khi đi tìm vì tiền bạc đem theo đều tiêu hết nên Trọng Cao đành phải đi ăn xin.

Khi Trọng Cao đến ăn xin nhà Thị Nhi, thì hai bên nhận ra nhau. Thị Nhi rước Trọng Cao vào nhà, hai người kể chuyện và Thị Nhi tỏ lòng ân hận vì đã trót lấy Phạm Lang làm chồng.

Phạm Lang trở về nhà, sợ chồng bắt gặp Trọng Cao nơi đây thì khó giải thích, nên Thị Nhi bảo Trọng Cao ẩn trong đống rơm ngoài vườn. Phạm Lang về nhà liền ra đốt đống rơm để lấy tro bón ruộng. Trọng Cao không dám chui ra nên bị chết thiêu. Thị Nhi trong nhà chạy ra thấy Trọng Cao đã chết bởi sự sắp đặt của mình nên nhào vào đống rơm đang cháy để chết theo.

Phạm Lang gặp tình cảnh quá bất ngờ, thấy vợ chết không biết tính sao, liền nhảy vào đống rơm đang cháy để chết theo vợ.

Linh hồn của ba vị được đưa lên Thượng Đế. Thượng Đế thấy ba người đều có nghĩa, nên sắc phong cho làm Táo Quân, gọi chung là: Định Phúc Táo Quân, nhưng mỗi người giữ một việc:

- Phạm Lang làm Thổ Công, trông coi việc bếp. Danh hiệu: Đông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thần Quân
- Trọng Cao làm Thổ Địa, trông coi việc nhà cửa. Danh hiệu: Thổ Địa Long Mạch Tôn Thần
- Thị Nhi làm Thổ Kỳ, trông coi việc chợ búa. Danh hiệu: Ngũ Phương Ngũ Thổ Phúc Đức Chánh Thần.

Truyền thuyết này thể hiện rất đậm nét trong sinh hoạt của người Việt. Trong bếp ngày xưa, thường có ba "ông đầu rau" - tức là ba hòn đất nặn dùng để kê nồi xanh đun bếp, trong đó hai hòn nhỏ hơn hòn thứ ba. Và nhân dân có tục lệ thờ "hai ông một bà", ngày 23 tháng Chạp hàng năm làm "lễ Táo quân", "Tết ông Công ông Táo", "tiễn ông Táo lên chầu Trời"... Đây rất có thể là ảnh hưởng của phong tục thờ thần lửa - một phong tục có từ lâu đời của nhiều dân tộc, tuy nhiên cách thể hiện ở mỗi nước một khác. Ví như ở Trung Quốc, từ thời cổ đại, Táo quân (còn được gọi là "Táo thần", "Táo vương", "ông Táo") đã được coi là một trong bảy vị thần đất được toàn dân cúng lễ. Nhưng nguồn gốc của Táo quân thì không nhất quán. Theo sách Hoài Nam Tử, Viêm Đế (tức Thần Nông) mang lửa đến cho dân nên khi chết được thờ làm thần bếp. Sách Lã Thị Xuân Thu lại coi Chúc Dung mới là thần quản lý lửa (do Viêm Đế mang tới) nên khi chết người dân thờ làm thần lửa. Còn sách Tây Dương tạp trở thì kể: thần lửa trông như một cô gái đẹp, tên là Ổi hay Trương Đan, tên chữ là Tử Quách, những ngày không trăng thường lên trời tâu về việc người nào có lỗi...

Chuyện truyền miệng của người Trung Quốc lại cho rằng trước kia mỗi tháng vua bếp lên trời một lần vào ngày tối (ngày cuối tháng âm lịch) để báo cáo về từng người trong mỗi gia đình (nhất là về những người đàn bà làm điều xấu); sau này, mỗi năm vua chỉ lên trời một lần vào ngày 23 hoặc 24 tháng Chạp. Đến ngày ấy, người Trung Quốc bày bàn thờ gần bếp, cúng vua bếp bằng thịt, cá, rượu nếp, bánh kẹo; đặc biệt có thêm cả nước và cỏ khô (cho ngựa của vua bếp "ăn" để bay và chở vua lên trời - khác với Táo quân của ta thì cưỡi cá chép lên trời). 

Tại sao ông Táo lại cưỡi cá chép về trời mà không phải các con vật khác? 

Phong tục của người Việt, ngày 23 tháng chạp, nhà nào cũng tiễn ông Táo lên chầu trời. Trên bàn thờ có ba chiếc mũ mới bằng giấy: một màu vàng ở giữa, hai màu đen ở hai bên - tức hai ông, một bà - không có cỗ mặn, chỉ cúng hương hoa, sau có 3 con cá chép đang bơi trong chậu thau. 3 con cá chép có ý nghĩa làm "ngựa" để Táo quân lên chầu trời. Sau khi cúng mũ được đốt và cá chép được mang ra thả ở ao, hồ, sông...

Tết Táo quân vào ngày 23 tháng Chạp - người ta coi đây là ngày "vua bếp" lên chầu Trời để tâu lại việc bếp núc, làm ăn, cư xử của gia đình trong năm qua.

Sớm ngày 23 Tết, các bà nội trợ của mỗi gia đình đã xách túi ra chợ chuẩn bị cho mâm cỗ cúng Táo quân. Một thứ không thể thiếu trong buổi đi chợ là cá chép.

Cá Chép Vàng hay còn gọi là (Cá Chép Tiên) là một loài động vật sống ở trên Thiên Đình, hồi trước sống trên trời, do phạm phải lỗi, nên bị Thượng Đế đày xuống trần gian để tu hành để chuộc lại tội lỗi của mình gây ra. Sau khi tu hành có chính quả, thì cá Chép sẽ hóa thân thành rồng và bay lên Trời. Còn Ông Táo là do Thượng Đế phái xuống trần tục để theo dõi loài người, xem ai là người Thiện, người Ác.

Sau đó Ông Táo bay về Thiên Đình để tâu lên Thượng Đế những việc ở dưới trần gian Nhưng mà muốn bay lên Trời, thì Ông Táo phải nhờ đến cá Chép mới lên được. 

Làm lễ cúng ông Công ông Táo tùy nếp từng nhà nhưng mâm cúng thường bao gồm:

- "Phục trang" của ông Công ông Táo.
- Ba con cá chép vàng (loại nhỏ để cúng), nhớ để vào cái bình cao cao kẻo cá nhảy ra ngoài. Tuy nhiên có nhà không cần cá sống vì đã có cá chép giấy thường bán kèm trong túi "phục trang". Nhà nào gần ao hồ, sông suối thì nên mua cá sống, cúng xong thì đem thả (nếu nhà có trẻ con, cho các cháu đi thả cá và giảng giải cho các cháu biết phong tục thì rất hay). Thả cá xong, xin nhớ đừng vứt túi ni-lông xuống sông hồ kẻo coi như là không những không được phúc phóng sinh mà còn bị vướng vào nghiệp sát sinh.
- Thịt lợn luộc: 1 miếng, thịt vai gáy. Nên đi chợ sớm mua thì được thịt tươi ngon
- Một món canh: canh măng với xương.
- Một món xào có rau.
- Một đĩa muối.
- Hoa quả vàng mã.
*Lập riêng bàn thờ cúng tiễn Táo Quân ở khu vực nhà bếp.

VĂN KHẤN LỄ ÔNG TÁO CHẦU TRỜI
Nam Mô A Di Đà Phật!
Kính lạy Ngài Đông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thần Quân !
Tín chủ con là:.............
Ngụ tại:.......................
Nhằm ngày 23 tháng Chạp, tín chủ chúng con thành tâm, sửa biện hương hoa phẩm vật, xiêm hài áo mũ, nghi lễ cung trần, dâng lên trước án, dâng hiến Tôn Thần, đốt nén tâm hương dốc lòng bái thỉnh.
Chúng con kính mời:
Ngài Đông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thần Quân giáng lâm trước án thụ hưởng lễ vật. Phỏng theo lệ cũ, Ngài là vị chủ, Ngũ Tự Gia Thần, soi xét lòng trần, Táo Quân chứng giám.
Trong năm sai phạm, các tội lỗi lầm, cúi xin Tôn Thần, gia ân châm chước. Ban lộc ban phước, phù hộ toàn gia, trai gái trẻ già, an ninh khang thái.
Giãi tấm lòng thành, cúi xin chứng giám.
Cẩn cáo.
Nguyễn Xuân Diện sưu tầm.

Ghi chú:

Thưa chưa vị,
1. Nếu chư vị vẫn muốn đặt bàn thờ Ông Táo ở khu vực bàn thờ gia tiên thì cũng được, nhưng phải làm thành một mâm riêng, phân biệt mâm cúng gia tiên.

2. Sau ngày 23 tháng Chạp, thì các gia đình có thể tiến hành dọn bàn thờ (quét, đánh bóng các đồ thờ bằng đồng, lau rửa bát hương...), tỉa chân hương, hoặc thậm chí bỏ hết chân hương cũ. Nếu thay bát hương hoặc bàn thờ, xin đem đốt hoặc thả xuống sông lớn.

3. Ngày tiễn ông Táo, nhà nhà đều cúng bái, đốt hương, hóa mã...vậy xin bà con hết sức cảnh giác để tránh hỏa hoạn cho nhà mình và nhà hàng xóm. Vàng hương khi đốt xong, cần gom lại cho sạch sẽ, đảm bảo vệ sinh cho môi trường.

4. Nếu nhà có trẻ con, nên giảng giải cho các cháu bé hiểu biết về phong tục cúng ông Táo.

Read more…

AI Video maker

pictory

Code type Ad code